Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012

HÌNH TƯỢNG THẦN SHIVA TRONG ĐIÊU KHẮC INDONESIA


HÌNH TƯỢNG THẦN SHIVA TRONG ĐIÊU KHẮC INDONESIA

           
Phan Anh Tú
Khoa Văn hóa học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn
Từ Thị Phi Điệp
Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ

Trong dòng nghệ thuật Bà La Môn giáo ở Indonesia, đảo Java được xem là nơi điển hình nhất trong lĩnh vực điêu khắc. Dựa vào phong cách nghệ thuật và sự giao lưu tiếp biến văn hóa, các học giả chia điêu khắc Java làm hai thời kỳ chính, điêu khắc Trung Java và điêu khắc Đông Java. Ở mỗi thời kỳ quan điểm thẩm mỹ cùng với đặc trưng văn hóa vùng miền đã tạo nên những sắc riêng trong điêu khắc thể hiện qua các hình tượng thần linh, linh vật và hoa văn trang trí. Sự kết hợp giữa các hình tượng Phật giáo và Bà La Môn giáo cùng với tín ngưỡng bản địa đã thể hiện cho sự sáng tạo và bản địa hóa của người Indonesia đối với nền văn hóa chịu ảnh hưởng Ấn Độ.
Dẫn nhập
Dựa trên địa hình khu vực, Đông Nam Á được phân thành hai tiểu vùng chính; Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo. Trong thư tịch của Ấn Độ, Đông Nam Á được gọi là Suvarnabhumi hay Suvarnavipa (xứ Vàng hay đảo Vàng), bao gồm các quốc gia ngày nay như: Miến Điện, Thái Lan, bán đảo Mã Lai, Lào, Việt Nam và Campuchia nằm trên vùng lục địa và Sumatra, Java, Madura, Bali và Borneo thuộc vùng hải đảo.
Bà La Môn giáo được truyền bá vào khu vực Đông Nam Á vốn không thuộc tôn giáo Vệ Đà cổ xưa[1] mà đã được cải biên và phổ biến ở Ấn Độ hầu như cùng lúc với giai đoạn thịnh vượng của Phật giáo và Kỳ Na giáo (hay còn gọi là đạo Jaina). Đặc trưng mới của Bà La Môn giáo là công nhận Brahma (thần Sáng tạo), Vishnu (thần Bảo tồn) và thần Mahesa hay Shiva (thần Hủy diệt) làm ba vị thần linh tối cao. Việc sùng bái ba vị thần chính này cũng chính là nền tảng để khai sinh ra ba hệ phái tôn giáo mới: Brahma giáo, Vishnu giáo và Shiva giáo vốn thống trị bối cảnh tôn giáo của Đông Nam Á trong nhiều thế kỷ trong đó có Indonesia. Trong số ba hệ phái tôn giáo trên, Shiva giáo phát triển phổ biến nhất ở Indonesia, bằng chứng có thể được tìm thấy qua hàng trăm bia ký liên quan đến Shiva giáo được phát hiện tại các đảo Java, Sumatra và Bali.
Shiva trong điêu khắc Trung Java
Có rất nhiều kiểu tượng Bà La Môn giáo liên quan đến thần Brahma, Vishnu và Shiva trong văn hóa Java xuất hiện từ đầu thế kỷ thứ VIII. Bên cạnh đó lĩnh vực thần thoại Bà La Môn giáo cũng được thiết lập vững chắc ở Java mà bằng chứng để lại là bia ký, đền tháp, tượng thần cũng như dòng văn học cung đình và dân gian. Văn hóa Bà La Môn giáo đã từng ảnh hưởng sâu đậm đến các mẫu hình điêu khắc và kiến trúc Trung Java thời cổ xưa mà ngày nay những vết tích này vẫn còn được bảo quản rất tốt.
Tư liệu sớm nhất liên quan đến tục thờ cúng thần Shiva là tấm bia Cangan (niên đại vào năm 732) ghi nhận về việc vua Sri Sanjaya đã cho dựng một chiếc Linga trên đồi cao để cầu mong sự bình an cho vương quốc của ông (Steven Drakeley 2005: 59, 60). Thần Shiva được mô tả trong minh văn của tấm bia, chiếm số lượng ba trong tổng số sáu câu của bia ký. Trong điêu khắc Trung Java, thần Shiva thường được thể hiện với con mắt thứ ba giữa trán, búi tóc bó cao trên đỉnh đầu, phía trước búi tóc luôn đính một hình mặt trăng lưỡi liềm, đỉnh đầu của thần tuôn ra một dòng nước được xem là nguồn gốc của sông Hằng (Ganga), thân hình thần màu xám đen với những lớp tro bụi bao phủ, cổ thần đeo vòng làm bằng một con rắn hổ mang. Trong thư tịch Java ngài được ngợi ca là “sở hữu quyền năng tối thượng (Aisarya) không chỉ đối với các tu sĩ, mà còn đối với thần Indra và các vị thần khác. Ngài là vị chúa tể của linh hồn (Bhusta), ngài bảo vệ thế gian bằng tám hình dạng khác nhau” (Majumdar R. C. 1937: 27). Trong bia ký Cangal có năm dòng nói đến khái niệm về quyền lực tối cao của Tam vị thần linh thuộc thần phả Purana, đồng thời cũng khẳng định một cách rõ ràng vị trí tối thượng của thần Shiva trong số các vị thần trên thiên giới. Những đền thờ quan trọng ở Trung Java đều thờ thần Shiva và một số lượng rất lớn các pho tượng tìm thấy ở nhiều vùng khác nhau của miền Trung Java đều là tượng thần Shiva và các vị thần trong gia đình của ngài. Trên thực tế thần Shiva còn được nói đến trong Amaramata, một tài liệu văn học cổ xưa nhất viết về tôn giáo ở Java. Trong đó thần Shiva được gọi là Gura (đạo sư) hay Isvara (đấng tối cao) của các thần…Điều này được thể hiện thêm trong nhóm tháp Lara – Jongrang với ngôi tháp lớn nhất nằm ở trung tâm dùng làm nơi thờ thần Shiva, hai ngôi tháp còn lại nằm hai bên thờ thần Vishnu và Brahma. Thần Shiva cũng được xem là hiện thân của sự phá hủy và sáng tạo thế giới thể hiện qua hai đặc tính nhân từ và khủng khiếp của thần. Từ hai khía cạnh này mà trong điêu khắc Trung Java thần Shiva được thể hiện cụ thể qua nghệ thuật tạo hình bằng hai hình tượng thần Mahadeva và Mahakala hoặc Bhairava.
Trong điêu khắc Trung Java, thần Mahadeva chỉ có một chiếc đầu, mặc dù tối đa là năm chiếc, con mắt thứ ba giữa trán, búi tóc có đính vầng trăng lưỡi liềm và một chiếc sọ người; con rắn dùng làm sợi dây thiêng (upavita) vắt chéo trên ngực, thần luôn được thể hiện với bốn cánh tay, hiếm có tượng Shiva nào có hai tay; bảo vật cầm tay bao gồm chiếc vòng (Camara), xây chuỗi (Aksamala), quyển sách, bình nước và cây đinh ba (Trisula). Còn thần Mahakala hoặc Bhairava thường biểu hiện sự khủng khiếp trên khuôn mặt, răng và mắt nhô ra, tóc rối bời, sợi dây thiêng được thay thế bằng những con rắn hay xây chuỗi làm bằng sọ người, hai hoặc tám cánh tay cầm các vật như sau: cây chùy (Gada), thanh kiếm (Khadaga), con ngỗng (Hamsa), con rắn (Naga) và thanh dao găm (Kris). Ngoài ra còn thấy những bảo vật quen thuộc của thần Shiva như cây đinh ba, xâu chuỗi và chiếc vòng. Ngoài những hình dạng trên, trong điêu khắc Trung Java còn thấy xuất hiện một hình tượng nổi tiếng mang tên là Ardhanarisvara, sự kết hợp giữa thần Shiva và nữ thần Durga. Pho tượng thể hiện nửa thân hình bên phải là của thần Shiva, còn nửa bên trái là nữ thần Durga, vật cầm tay của cả hai vị thần đều được thể hiện trên các cánh tay. Ảnh hưởng của Shiva giáo của Trung Java rất mạnh thậm chí tác phẩm Mahabharata cải biên của Java xem Krisna là một trong những hóa thân của thần Vishnu và chỉ là biểu hiện cho đặc tính của thần Shiva. Hình tượng tam vị thần linh (Trimurti) Brahma, Vishnu và Shiva kết hợp lại thành một vị thần với ba chiếc đầu cùng chung một biểu hiện cũng được tìm thấy tại Trung Java. Tuy nhiên trong một số trường hợp, chiếc đầu trung tâm biểu hiện cho thần Shiva có trang trí hình mặt trăng và chiếc đầu lâu trên búi tóc. Bốn cánh tay của vị thần tổng hợp này cầm các bảo vật chiếc vòng, xâu chuỗi, quyển sách, hoa sen và bình nước thánh.
Kiến trúc tôn giáo Trung Java được biết đến với tên gọi là Candi (đền tháp), có nguồn gốc từ những ngôi đền chứa tro cốt người chết hay những quần thể kiến trúc. Theo Krom, từ này bắt nguồn từ thuật ngữ Candika, một trong những cái tên của nữ thần Durga “vị nữ thần giải thoát cho người chết, ngôi đền của bà thường có một khoảng sân dùng làm nơi hỏa táng mà người ta còn thấy kiểu kiến trúc này tồn tại đến ngày nay ở Bali” (Steven Drakeley 2005: 70). Tuy nhiên, chức năng chính nói chung vẫn là một đền thờ.
Ở trung tâm của vùng cao nguyên Dieng thuộc miền Trung Java được biết với tên gọi thời cổ xưa là Dihyang, có một nhóm bốn ngôi tháp nằm thẳng hàng theo trục Bắc Nam được bao bọc bằng những ngọn đồi. Những ngọn núi lửa hùng vĩ đã yên nghĩ cao khoảng 6.500 mét so với mặt biển, hình thành nên nhiều sông hồ. Đặc điểm địa lý này đã tạo thành một nơi thiêng liêng tự nhiên đối với cư dân và tôn giáo đóng vai trò trung tâm trên ngọn núi. Tất cả những ngôi đền trên cao nguyên Diêng đều thờ thần Shiva. Candi Bima một trong những bốn ngôi đền thể hiện một phong cách kiến trúc tôn giáo hoàn toàn khác với các ngôi đền khác. Bên bờ tường của tòa tháp này có một máng nước dẫn nước thánh ra ngoài. Ngọn tháp chính rất cao, mái tháp được trang trí theo từng tầng vươn lên theo chiều cao của tháp, các góc tháp trang trí bằng cột đá theo yếu tố tôn giáo bản địa của miền Tây cao nguyên Deccan. Pho tượng thần Shiva đầy quyền năng ở Dieng hiện vẫn còn nguyên vẹn, nó có niên đại gần với thời kỳ Borobudur thể hiện cho giai đoạn phát triển đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc Indonesia. Toàn thể quần thể kiến trúc mang đặc trưng của hệ phái Shiva giáo và sự thể hiện của ba vị thần Brahma, Vishnu và Shiva. Điều quan trọng mới xuất hiện trong nghệ thuật tạo hình Indonesia là vật cưỡi của ba vị thần linh đều có hình dáng của con người chỉ có chiếc đầu của con bò, con ngỗng hoặc chiếc mõ của con chim thần Garuda[2] để giúp tín đồ nhận diện được vật cưỡi của thần Brahma, Vishnu hay Shiva. Ngoài nhóm đền tháp này, chúng tôi còn thấy rất nhiều đền tháp cổ xưa ở phía Nam và Đông của cao nguyên Diêng mang đặc trưng của hệ phái Shiva giáo.
Trong số những đền đài chính của người Java thuộc triều đại Seilandra, nhóm đền tháp thờ thần Shiva ở núi Ungaran được biết đến với cái tên là Gedong Sang nằm ở hướng Đông của cao nguyên Diêng và hướng Nam của vùng Semarang. Thuật ngữ Gedong – Sang có nghĩa là “chín ngôi nhà”, rất chính xác khi đề cập đến chín nhóm tháp được phát hiện trên hai dãy đồi tạo thành một vùng thung lũng sâu làm biên giới giữa hai vùng Semarang và Kedu. Nét tương đồng trong phong cách kiến trúc đưa đến giả định cả hai nhóm tháp này đều cùng một phong cách và niên đại. Những ngôi tháp này không được sắp xếp trên một hoàn đồ cụ thể giống như những ngôi tháp ở cao nguyên Dieng, chúng nằm phân tán và dường như đã không có bất kỳ một hoạch định cụ thể nào khi xây dựng. Đẹp nhất trong quần thể kiến trúc này là ngôi đền số hai. Về mặt kiến trúc và phong cách trang trí có những nét tương đồng với những ngôi đền ở Dieng nói chung nhưng quần thể kiếu trúc Cedon Sang chú ý nhiều hơn vào các chi tiết hoa văn ở các gốc tháp.
Tại một ngôi đền phế tích thờ thần Shiva khác nằm không xa di sản văn hóa thế giới Borobudur có một nhóm tác phẩm điêu khắc tượng tròn sinh động và thẩm mỹ. Ngoài một pho tượng thần Vishnu cực kỳ sinh đẹp, chúng tôi còn tìm thấy pho tượng Agastya, vị đạo sư thần thánh, thể hiện cho thần Shiva trong hình dạng của một nhà hiền triết Bà La Môn giáo với chòm râu dài và chiếc bụng to lớn. Pho tượng có khuôn mặt trầm tĩnh và thân thể cục mịt thể hiện sự chậm chạp của một người đàn ông có tuổi. Đây cũng là đặc trưng của loại hình nghệ thuật mang tính tôn giáo bản địa của Indonesia.
Những ngôi đền Shiva ở miền Trung Java cũng như những ngôi đền Bà La Môn giáo khác, có những phần cấu trúc chung theo mẫu hình đền thờ Ấn Độ. Đền đài cuối cùng của thời đại Trung Java được xây dựng bằng hàng loạt các công trình. Tuy nhiên không chắc là chúng được xây dựng trước năm 900 và sau năm 930 khi các vị vua rút lui từ Trung Java về Đông Java. Tòan thể các công trình kiến trúc đều nhằm tôn vinh cho thần Shiva và thể hiện một hay nhiều ngôi điện thờ bằng hình dạng của những ngọn núi vũ trụ. Ngoài nhóm tháp Lara Longrang, các nhà nghiên cứu cũng thường nhắc đến khu tháp Prambanan, mà tên gọi này có nguồn gốc từ một pho tượng đá loại nhỏ của nữ thần Durga được thờ tại một trong những ngôi tháp nhỏ. Nguyên thủy có khoảng hơn 232 ngôi đền được xây dựng trong khu vực Prambanan. Hoành đồ với trung tâm là một cung điện hình vuông với bốn cổng ra vào chứa tám ngôi tháp thờ các vị thần trấn trị phương hướng (Dikpala). Tháp trung tâm rộng nhất, cao khoảng 12 mét dùng để thờ thần Shiva mặt tháp quay về hướng Đông. Cập theo hai bên hông thuộc hướng Bắc và hướng Nam có hai ngôi tháp nhỏ hơn thờ hai vị thần Bà La Môn giáo trong bộ ba (Trimurti) là Brahma và Vishnu. Đối diện với ngôi tháp thờ thần Shiva là một nhà thủy tạ có đặt pho tượng bò thần Nandin hai bên hông bò đối diện với ngôi tháp thờ Vishnu và Brahma là những ngôi tháp thờ các hóa thân của Shiva. Xa về phía Bắc và Nam vẫn còn hai ngôi tháp khác mà người ta chưa rõ mục đích của chúng.
Như đã nói bên trên ba ngôi đền này nằm về phía Tây, ngôi đền trung tâm to lớn nhất và đẹp nhất dùng làm nơi thờ thần Shiva, ngôi đền nhỏ hơn phía Bắc thờ thần Vishnu và ngôi phía Nam thờ thần Brahma, đối diện và nằm giữa của ba ngôi đền là tượng bò thần Nandin và cũng có thể có tượng vật cưỡi của Vishnu và Brahma. Ngoài ra không thấy dấu vết gì khác nữa của ba ngôi đền này, nhiều học giả tin rằng có thể sẽ còn có một chiếc Linga và một Mahayoni (đại Yoni) được thờ cúng ở đây. Trong số các ngôi đền thờ thần Shiva ở Java, Prambanan là một quần thể kiến trúc Shiva giáo lớn nhất Đông Nam Á, được nhiều tín đồ sùng bái.
Sự kết thúc giai đoạn nghệ thuật Trung Java đã để lại sự hoang phế không thể giải thích được trên vùng cao nguyên Điêng. Vào 915 trung tâm quyền lực và tôn giáo của nhà nước di chuyển về miền Đông Java. Những thế kỷ tiếp theo sức mạnh của nhà nước Java được tăng cường bằng việc kiểm soát con đường hải thương nối liền khu vực hải đảo với vùng Viễn Đông. Phong trào phục hưng cuối cùng của dòng nghệ thuật Java bắt đầu vào thế kỷ XIII với vương triều Majapahit. Những đền đài của giai đoạn cuối cùng này thể hiện phong cách hậu cổ điển với những nét điêu khắc mang nặng tính chất Indonesia nhiều hơn là Ấn Độ. Đặc biệt trên các công trình kiến trúc xuất hiện nhiều mảng trang trí hơn trước tập trung nhiều ở các góc tháp và đầu cột. Thực tế cho thấy nghệ thuật Đông Java đã tiếp nối của dòng nghệ thuật Trung Java, do đó nó đã phản ánh những nét tương đồng về mặt phong cách, địa lý và lịch đại. Song những đền đài thuộc dòng nghệ thuật Đông Java không đạt đến trình độ thẩm mỹ cao như ở miền Trung Java, nó phản ánh sự phát triển theo những nguyên tắc của dòng nghệ thuật bản địa của cư dân Java.
Shiva trong điêu khắc Đông Java
Những ngôi đền thờ thần Shiva cổ xưa nhất ở Đông Java là Badut và Besuki mà này ngay chúng chỉ còn là những phế tích. Đền Badut có dựng một Linga và Yoni. Chiếc Yoni bị vỡ thành hai phần nhưng chiếc Linga vẫn còn nguyên vẹn. Phế tích đền Besuki vẫn còn vương vãi những mảnh vỡ của hình tượng nữ thần Durga, Ganesa, Bhataraguru và một chiếc Linga.
Ngôi đền đầu tiên đáng chú ý nhất thuộc vương triều Majapahit là Candi Javi nằm dưới chân núi Velirang. Nơi đây chứa đựng rất nhiều di vật của vua Krtanagara, đặc biệt là pho tượng hoàn hảo thể hiện sự đồng hóa nhà vua với thần Shiva và Đức Phật. Tác phẩm Nagara – Krtagama cũng dành nhiều dòng mô tả ngôi đền vào thời điểm vinh quang của nó. Qua mô tả này chúng ta đã biết đến một ngôi bảo tháp bên trong chứa tượng thần Shiva và một pho tượng thần Ashobya nằm bên trong gian thờ, tuy nhiên hiện nay chúng đã biến mất khỏi vị trí cũ. Ngoài các hiện vật tại di tích này cũng có rất nhiều tượng thần Shiva được tìm thấy tại các ngôi tháp nhỏ hơn ở Kose và Candi Suravana còn gọi là tháp Candi Bloran đã cho thấy đặc điểm Shiva giáo tại các ngôi đền Đông Java.
Kiến trúc nổi tiếng thuộc thời đại Đông Java là quần thể đền tháp Panataran. Mặc dù công trình được khởi công trong thời trị vì của triều đại Singhasari (1222-1292) nhưng những hạn mục chính lại được hòan thành dưới triều đại Majapahit (1293-1500). Ngoài ra, cũng có những hạn mục nhỏ hơn được xây dựng dưới triều đại vua Hayam Wuruk. Tính chất Shiva giáo trong ngôi đền chính được trang trì dày đặc với các hình tượng Đức Phật, Vishnu và thần Shiva cùng với những con vật cưỡi (Vahana) của các thần. Cũng có nhiều mảng trang trí các hình tượng thần linh khác như Indra (thần Sấm sét), Karttikeyu (hay Skanda – thần Chiến tranh), Agni (thần lửa) ngự trên các Vahana của họ. Những hình tượng có niên đại trong thời kỳ Singhasari, chúng cũng mang cùng một đặc điểm với những hiện vật phát hiện tại Jago. Thần Ganesa, con trai của Shiva được thể hiện ngồi trên một chiếc bệ xung quanh trang trí bằng những chiếc đầu hay vị thần khủng khiếp và lõa thể Bhairava (một hóa thần của thần Shiva biểu hiện cho sự hủy diệt) ngồi trên một chiếc ngai với đôi chân trần luôn thể hiện giống nhau trong điêu khắc Trung Java. Bhairava được chạm khắc với bốn cánh tay cầm một chiếc đinh ba, thanh dao găm, chiếc trống và bầu rượu, cổ đeo một vòng hoa kết bằng sọ người và điểm xuyến bằng nhiều loại đồ trang sức trên cơ thể. Mặt khác Mahakala, vị thần bảo vệ cho Shiva lại được thể hiện trong hình dáng của một người lùn, bụng phệ, một tay cầm chùy và một tay cầm cây gậy. Nữ thần Durga, vợ của thần Shiva được thể hiện trong hình dáng của thần Mahisasura cầm nhiều loại vũ khí khác nhau trên tám cánh tay của bà. Nandisvara (vật cưỡi của thần Shiva hóa thân thành thần canh giử giấc ngủ của thần Shiva) có hình dáng dễ nhìn và hai tượng bò thần Nandin vẫn được bảo tồn nguyên vẹn.
Các pho tượng thuộc thời đại Majapahit có đặc điểm chung là vầng hào quang phía sau đầu được thể hiện giống như các tia sáng mặt trời tỏa ra bao quanh toàn bộ pho tượng. Hình tượng bộ ba, nữ thần Parvati đứng hai vị thần Karttikeya và Ganesa là một mẫu hình tuyệt đẹp trong điêu khắc Đông Java. Hàng loạt các pho tượng thần đều được thiết kế theo dạng chân dung của nhà vua hay hoàng hậu. Chúng tôi cũng đã nhìn thấy nhiều pho tượng thần Shiva tuyệt mỹ có thể xem là “kiểu mẫu đẹp nhất về nghệ thuật điêu khắc thế kỷ XIII, là sự kết hợp vẻ đẹp cả ngoại hình và ý tưởng” (Upendra Thukur 1986: 87). Một trong những pho tượng đạt trình độ thẩm mỹ cao là pho tượng thần Hari – Hara tìm thấy ở Simping, thể hiện những đặc điểm của vua Krtarajasa. Vị vua có bốn tay, hai tay trước cầm các linh vật như con ốc gai (Samkha), cây chùy (Gada), hai tay sau cầm xâu chuỗi và cây định ba; chính là những vật cầm tay thuộc về thần Shiva và Vishnu. Hình tượng này để lại ấn tượng sâu đậm cho giới nghiên cứu về “cách trang trí dày đặc trên thân thể và y phục được bổ sung thêm bằng nhiều lá sen. Chúng thuộc trường phái nghệ thuật Singhasari và Jago và có thể chúng là một trong những sản phẩm đẹp nhất của dòng nghệ thuật Đông Java” (Upendra Thukur 1986: 101).
Sự thống trị của thần Shiva trong tín ngưỡng và tôn giáo cổ Đông Java là không thể tranh luận. Đối với các hệ phái tôn giáo khác, xu hướng “Shiva hóa” cũng được thể hiện như các vật cầm tay của thần Vishnu, Phật và các vị thần Bà La Môn khác cũng đều lấy theo mẫu hình của thần Shiva. Hình tượng thần Brahma và Vishnu tuy đóng vai trò quan trọng trong nghệ thuật Bà La môn giáo nhưng ở Đông Java họ chỉ được xem như những hóa thân của thần Shiva. Do sự sùng bái của cư dân Java, Shiva được nâng lên thành vị thần tối cao mặc dù thần thoại mô tả ngài chỉ có vị trí đồng cấp với Brahma và Vishnu. Mặc khác ba vị thần chính của Bà La Môn giáo chính là sự thể hiện cho ba khía cạnh khác nhau của một vị thần tối cao vô hình (Tam vị nhất thể), nhưng trong nghệ thuật và tôn giáo Java vị thần tối cao đó được điêu khắc bằng hình dạng của chúa tể Shiva.
Shiva trong điêu khắc Bali
Giống như ở Java, Bà La Môn giáo đóng vai trò quan trọng trong tôn giáo và nghệ thuật điêu khắc đảo Bali. Mặc dù các di sản kiến trúc còn lại rất khiêm tốn, Bali có rất nhiều những tác phẩm điêu khắc đá xuất sắc được chạm trên các vách đá của các tu viện ở Goa Gaja (còn gọi là hang Voi) thể hiện cho tài năng thiên phú của người nghệ nhận Bali.
Hang động Goa Gaja hiện còn lại một số hiện vật như pho tượng thần Ganesa phía sau lưng có chạm hình Raksasa (Dạ Xoa nam) hiện còn nằm trước cửa hang. Trong ngôi đền chính người ta dựng ba chiếc Linga nhằm biểu trưng cho vị thần: Shiva, Brahma và Vishnu (do Brahma và Vishnu được xem là hóa thân của Shiva nên được thể hiện bằng hình tượng Linga). Những ngôi đền thờ thần Brahma, Vishnu và Shiva đều xây theo mô hình của ngọn núi Meru. Về vị trí trong kiến trúc Bà La Môn giáo ở Bali, các ngôi đền thờ thần Vishnu và Brahma thường nằm về phía Nam và phía Bắc của ngôi đền thờ thần Shiva. Ngôi đền hoàng tráng, đồ sộ nhất thường dùng làm nơi thờ thần Shiva, những ngôi đền thờ thần Vishnu và Brahma thường có kích thước nhỏ hơn.
Pho tượng thần Shiva tuyệt đẹp ở Bedulu[3], mặc dù bị hư hại một ít nhưng những phần còn lại của pho tượng đã phản ánh sự ảnh hưởng sâu đậm của dòng nghệ thuật truyền thống Trung Java (thế kỷ VIII-IX) và Đông Java. Qua nghiên cứu so sánh về nghệ thuật điêu khắc Java và Bali thuộc giai đoạn thế kỷ thứ VIII-IX cho thấy; đây là giai đoạn sớm nhất trong quá trình phát triển của nghệ thuật điêu khắc Bali. Trong suốt giai đoạn này Bà La Môn giáo chiếm vị trí độc tôn trong văn hóa Bali đến nổi khó có thể tìm thấy yếu tố bản địa trong bất kỳ mẫu hiện vật điêu khắc nào. Rất nhiều tác phẩm điêu khắc thuộc mẫu hình Shiva giáo đã được tìm thấy tại Sukavana trên vùng Gunung Panulisan, có pho tượng thể hiện sự kết hợp giữa bốn hình tượng thần linh với bốn khuôn quay ra bốn hướng. Mỗi pho tượng đều có bốn tay và con mắt thứ ba giữa trán, tay cầm con ốc gai (Samkha) và quyển sách. Các pho tượng này đều thể hiện tam vị nhất thể, con mắt thứ ba thể hiện cho thần Shiva, con ốc (Samkha) biểu tượng của thần Vishnu và quyển sách, vật cầm tay của thần Brahma.
Quan sát các tác phẩm điêu khắc trên hồ nước thiêng Bedulu ở Pur Pusa chúng tôi thấy về vị trí hồ nước nẳm trên sườn đồi cao 24 mét so với mặt đất, có hình giống như một chiếc trống, miệng hồ mở rộng, mặt ngoài của bờ hồ chạm trỗ tỉ mĩ. Hình tượng cơ bản là tám con rắn chia thành từng cặp nằm trên bốn góc hồ, bành rắn cuộn lấy nhau theo từng cặp và đầu chúng đội những chiếc Linga của thần Shiva. Mặc dù rất khó để khẳng định ý nghĩa của những pho tượng này nhưng có thể nó thể hiện cho sự kết hợp của tín ngưỡng thờ thần Shiva và tín ngưỡng phồn thực bản địa thường thấy trong điêu khắc Bali. Một mẫu hình Linga đặc trưng với tám nhủ hoa bao quanh được thiết lập tại trung tâm của hồ nước, một dòng suối chảy từ trên núi xuống được dẫn đi xuyên qua những đôi nhủ hoa của tám vị nữ thần được bối trí đứng thành hai hàng, với tư thế tay nâng ngực, nơi dòng chảy tuôn ra chảy xuống hồ. Phần bên trên của nhủ hoa chạm những hoa văn hình cánh sen, ngoài ra còn những pho tượng ngồi trên những tòa sen ở hàng thấp hơn.
Những hình tượng điêu khắc tại hồ nước thiêng Bedulu đã thể hiện cho sự dung hợp của nhiều dạng tín ngưỡng khác nhau của cư dân bản địa. Sự sùng bái thần Shiva được đồng hành cùng với tín ngưỡng phồn thực và tín ngưỡng sùng bái nước của cư dân nông nghiệp Bali. Khi quan sát tiến trình dẫn nước chúng tôi thấy dòng nước bắt nguồn từ trên ngọn núi cao được xem là ngọn núi thiêng Mahameru của Shiva giáo, chảy qua những chiếc Linga, pho tượng thần Shiva và những đôi nhủ hoa của các vị nữ thần vợ của thần Shiva, rồi đổ xuống hồ nước thiêng, nơi dòng nước tiếp tục chảy ra những cánh đồng lúa và làng mạc của vùng Bedulu. Trong ý nghĩa tôn giáo, dòng nước được xem là thiêng liêng mang đến mang đến cho cư dân những đặc ân của các vị thần về cuộc sống, sự sinh nổi nảy nở của con người, cây trồng và phù sa cho đất đai. Hình tượng của thần Shiva và các nữ thần ở hồ nước Bedulu chính là chân dung của nhà vua cùng những vị hoàng hậu của ngài, dòng nước của thần Shiva chính là dòng nước của hoàng tộc ban phát cho thần dân của họ.

 

Kết luận
Khi truyền bá vào Đông Nam Á, hình tượng thần Shiva cùng hòa nhập với nền văn hóa Indonesia bản địa thể hiện bằng sự kết hợp với tập tục thờ cúng tổ tiên, thờ vua thần, tục sùng bái núi và nước thiêng (Amerta) để trở thành một dạng tín ngưỡng hỗn hợp được thờ cúng dưới dạng các pho tượng hay chiếc Linga của thần Shiva trong những ngôi đền. Những loại nghi lễ (puja) được tiến hành với miền tin không chỉ mang đến cho thần cuộc sống vĩnh cửu mà còn là lòng tưởng nhớ đến tổ tiên đã chết nhưng linh hồn của họ vẫn còn ảnh hưởng rất sâu đậm trong đời sống của con cháu theo quan niệm của cư dân bản địa. Nghi lễ đã cho thấy sự hòa nhập của tín ngưỡng Shiva giáo với truyền thống bản địa thờ cúng tổ tiên của dân tộc Indonesia. Những pho tượng thần Shiva cùng các nữ thần là thể hiện cho chân dung của nhà vua và các vị hoàng hậu, những người đang cai quản thế giới thần linh và con người ngay cả khi họ còn sống hay đã chết. Các thư tịch tôn giáo của Indonesia đã mô tả về các vị thần Mật tông như thần Baihrava, thần Mahakala biểu hiện cho khía cạnh hủy diệt của thần Shiva đã cho thấy hệ phái Mật tông của Phật giáo và Shiva giáo cùng được thực hành song song tại vùng hải đảo.
Trong cuộc sống hàng ngày, cư dân Indonesia cổ đã nhận được ân huệ mà thần Shiva (nhà vua là hóa thần trên trần gian của ngài) ban tặng bằng dòng nước thiêng chảy qua chiếc Linga và những đôi nhủ hoa của các nữ thần, nó mang đến cuộc sống phồn vinh, thịnh vượng cho con người bằng sự sinh sôi của vạn vật và phù sa cho đất trồng trên khắp vương quốc. Để biểu lộ lòng kính trọng đối với Shiva, vị thần nhận hiến tế của tín đồ, họ phải tổ chức những nghi lễ tại các đền thờ như ngày nay chúng ta vẫn còn thấy diễn ra trên đảo Bali. Mỗi ngày thần phải được tắm rửa, thay quần áo, nhận cúng dường thức ăn vào buổi sáng, nghỉ ngơi vào buổi trưa, thưởng thức âm nhạc và các điệu múa vào buổi tối. Trong những dịp lễ hội đặc biệt, các pho tượng thần Shiva hay nữ thần được mang đi diễu hành, rước từ đền thờ này đến đền thờ khác như là một phần của nghi lễ bắt buộc hàng năm, để các vị thần viếng thăm nhau.
Hầu hết những pho tượng và phù điêu các vị thần theo hệ phái Shiva giáo đều được tạo tác bằng đá, công năng của chúng là dùng gắn vào bờ tường của các ngôi đền hoặc dựng lên bên trong chánh điện nhằm mục đích thờ cúng và giáo dục tôn giáo. Một vài hình tượng được giải thích bằng những truyền thuyết địa phương. Theo nghiên cứu của chúng tôi hầu hết tác phẩm điêu khắc có giá trị mỹ thuật hay bình đều được thực hiện bởi các họa sỹ vô danh. Phần lớn các tác phẩm điêu khắc liên quan đến hoàng tộc đều do triều đình bảo trợ.
Phần lớn các pho tượng thần Shiva ở Indonesia đều được thể hiện dưới hình dạng của một người trẻ tuổi nổi bật với nét đẹp của y phục và đồ trang sức. Về hình thể học, các pho tượng luôn có sự khác biệt về mặt phong cách tùy thuộc vào đặc trưng văn hóa vùng hoặc tùy vào niên đại phát triển của văn hóa Indonesia. Mặc dù có những quy định của đạo Bà La Môn về tỷ lệ, hình dáng đòi hỏi người nghệ nhân phải tuân theo một cách tuyệt đối nhưng ở Indonesia những pho tượng bị làm khác đi ở nhiều nơi khác nhau. Chính điều này đã góp phần tạo nên những đặc điểm và phong cách mới độc lập hẳn với văn hóa Ấn Độ. Những yếu tố điêu khắc dựa trên nền tảng văn hóa bản địa thời kỳ tiền Bà La Môn giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc vào nghệ thuật tạo hình của Indonesia. Do đó chúng ta có thể nói rằng quá trình tiếp nhận văn hóa Ấn Độ ở Indonesia chính là quá trình bản địa hóa.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. 1.Drakeley Steven 2005. History of Indonesia. - USA: An imprint of Greenwood of Pubslihing Group.
  2. 2.Frederic L 1965. The temples and sulpture of South-East Asia. – London: Oxford University Press.
  3. 3.Frederic Louis 1967. The art of Southeast Asia. - New York: Hary N. Abrams, Inc.
  4. 4. Jumsai, Sumet 1990. Naga: Cultural Origins in Siam and the West Pacific. Pubslihed in Thailand.
  5. 5.Golzio Karl – Heinz (Ed) 2004. Incriptions of Champa. Shake Verlay Aachen
  6. 6.
  7. 7.Guy John 2009. “Artistic exchange, regional diologue and the Cham territories”. Champa and the archaeology of Mỹ Sơn (Việt Nam): Singapore. - NUS Press, pp. 127-155.
  8. 8.Heinrich Zimmer 1989. Myths and synbols in Indian art and civilization. – USA: Princeton University Press.
  9. 9.Jacques Claude and Freeman Michael 2009. Angkor. - London: published by Readktion Books ltd.
  10. 10. Kenneth Hall. R 1985. Maritime trade and state development in early Southeast Asia. - University of Hawaii Press.
  11. 11.Kerlogue Fiona 2004. Arts of Southeast Asia. United Kingdom of England: - Thamse and Hudson world of art.
  12. 12.Keyes Charles. F 1977. The Golden Peninsular Culture and Adaptation in Mainland Southeas Asia. – Honolulu: University of Hawaii Press.
  13. 13.Li Tana 2006. “A view from the sea: perspectives on the Northern and Central Vietnamese coast”. Journal of Southeast Asian Studies no 37, pp 83-102, February.
  14. 14.Majumdar R. C. 1937. Ancient Indian colonies in the Far East, Vol II. Dacca.
  15. 15.Majumdar R. C. 1937. Champa: History and culture of an Indian colonial kingdom in the Far East 2nd – 16thcentury AD. India, Dacca Press.
  16. 16.Pratapaditya Pal 1986. Indian Sculpture, Vol I, II. University of California Press.
  17. 17.Reichle Natasha 2007. Violence and serenity: late Buddhist sculpture from Indonesia. University of Hawaii Press
  18. 18.Thakur Upenda 1986. Some aspects of Asian history and culture. – New Delhi: Abhima Publication.
  19. 19.Vickery Michael 2003. “Funan Reviewed: Deconstructing the Ancients”. In: Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient. Tome 90-91. Pp. 101-143.

Bài đã đăng tại Tạp chí KHXH-Viện KHXH-Viện PTBVVNB, số 12 năm 2011,Tr: 35-44




[1] Việc truyền bá văn hóa và chính trị của Ấn Độ được khởi xướng từ thời kỳ đầu Công Nguyên. Các học giả Ấn Độ, Pháp, Hà Lan và các học giả Đông Nam Á đã đưa ra rất nhiều giả thuyết khác nhau liên quan đến việc bành trướng dòng văn hóa này và họ tin rằng văn hóa Ấn Độ được mang đến Đông Nam Á bởi những người Ấn Độ thuộc đẳng cấp Chiến sỹ và Thương buôn, họ liên kết với nhau để tìm kiếm sự giàu có trên vùng đất nhiều vàng và hương liệu này (Upendra Thukur 1986: 7). G. Coedes, R. C. Majumdar và nhiều học giả khác tin rằng văn hóa Ấn Độ được truyền bá đến Đông Nam Á trong khoảng thế kỷ thứ nhất hoặc thứ hai trước Công Nguyên và những khu định cư sớm nhất của người Ấn đã được hình thành tại Campuchia, Cochin China (Nam Việt Nam ngày nay) và miền Nam Thái Lan, vùng đất mà người Trung Hoa gọi là Phù Nam. Theo truyền thuyết bản địa, có một người Bà La Môn (Brahmin) tên Kaudinya đến Phù Nam trong thế kỷ đầu Công Nguyên, hôn phối với một nàng công chúa bản địa tên là Nagini Soma, rồi trở thành vua của vùng đất này (Upendra Thukur 1986: 7, 8).
[2] Vật cưỡi của thần Vishnu (thần Bảo tồn) có hình dáng mình người, đầu và cánh chim. Hình tượng chim thần Garuda hiện được dùng làm quốc huy của một số quốc gia Đông Nam Á như: Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Còn hãng hàng không quốc gia Indoneisa thì mang tên là Garuda Airline.
[3] Truyền thuyết ở Bali kể rằng để trốn thoát khỏi thanh kiếm bành trướng của người Hồi giáo, người Java phải chạy về phía Đông và đến Bali nơi họ phục hưng Bà La Môn giáo và nền văn học ảnh hưởng Ấn Độ. Điều này cũng được kể trong những câu chuyện hồi năm 1000 cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa hoàng gia Java và Bali. Java đã từng chinh phạt Bali và trong suốt một thời gian dài Bali đã tiếp nhận văn hóa Ấn Độ từ Java. Vì thế nền văn học Ấn Độ – Java được bảo tồn rất tốt tại Bali, vấn đề này được ghi nhận bởi C. Hocykass trong bài nghiên cứu của ông mang tên “Những kho tàng của Bali” (Upendra Thukur 1986: 6).

NGƯỜI CỔ ĐÔNG NAM Á


NGƯỜI CỔ ĐÔNG NAM Á
Nguyễn Đức Hiệp

Đông Nam Á là nơi cư trú lâu đời của con người từ khi con người hiện đại đi từ Đông Phi qua Ấn Độ đến Đông Nam Á hơn 60000 năm nay. Từ Đông Nam Á, con người đã đi đến Úc châu, và sau đó đã đi lên Đông Á. Người cổ nhất được tìm thấy ở Úc, ở hồ Mungo (nay là sa mạc), được định tuổi là khoãng 50000 năm. Hiện nay chưa tìm được di tích người cổ hơn người Mungo ở Đông Nam Á, nhưng có nhiều bằng chứng cho thấy Đông Nam Á là điểm xuất phát của con người đi xuống lục địa Úc trong thời băng hà Pleistocene. Để có thể hiểu rõ quá trình phát triển của con người, chúng ta hảy đi ngược lại thời gian tìm hiểu về địa chất, môi trường sống trong vùng Đông Nam Á từ cuối thời băng hà Pleistocene cho đến ngày nay.
1. Đông Nam Á, thời băng hà - Đất tổ của người AustroAsiatic, Austronesian
Thời kỳ địa chất Cenozoic, cách đây 65 triệu năm cho đến ngày nay, là thời kỳ động vật có vú và chim bắt đầu xuất hiện. Thời địa chất Cenozoic gồm có hai kỷ - kỷ thứ ba (Tertiary) và kỷ thứ tư (Quaternary) — Trong 2 kỷ này gồm có 7 kỷ nguyên (epochs). Kỷ thứ ba có 5 kỷ nguyên Paleocene, Eocene, Oligocene, Miocene, và Pliocene và Kỷ thứ tư chỉ gồm hai kỷ nguyên, thời kỳ Pleistocene và Holocene.
Con người bắt đầu xuất hiện vào thời kỷ nguyên Pleistocene, nhưng chỉ bắt đầu có ảnh hưởng to lớn đến môi trường sống trên trái đất vào đầu thời Holocene cách đây gần 12000 năm.
Kỷ thứ ba (Tertiary) Paleocene : 65-57 triệu năm trước
Eocene     : 57-34 triệu năm trước
Oligocene : 34-23 triệu năm trước
Miocene   : 23-5 triệu năm trước
Pliocene   : 5-2 triệu năm trước
Kỷ thứ tư   (Quarternary) Pleistocene : từ 2 triệu năm đến 13,000 năm trước đây
Holocene : 12,000 năm trước đây đến ngày nay
Tiến bộ then chốt nhất về khoa học trái đất là sự khám phá trong thập niên 1990 khí hậu địa cầu trong quá khứ 100000 năm đã qua: từ thời băng hà cuối của kỷ nguyên Pleistocene đến thời Holocene ngày nay. Dữ kiện khoa học về thời tiết và nhiệt độ nước biển đã được biết qua các nghiên cứu các lớp san hô, những mẫu phù sa, các tầng nước đá ở Bắc cực trước đây trong nhiều ngành khoa học khác nhau. Nhưng chỉ hơn 15 năm gần đây, qua sự tổng hợp và các hợp tác nghiên cứu liên ngành để giải thích các sự kiện lịch sử con người trong quá khứ cũng như tiên đóan khí hậu môi trường sống trên trái dất trong tương lai, các nhà khoa học đã cấu tạo lại các dữ kiện khí hậu xưa kia trên trái đất rất chi tiết cho đến các đây hơn 100,000 năm để làm nền tảng cho các nghiên cứu sau này.
Quan trọng nhất là qua các lớp nước đá lấy ở đảo Greenland gần bắc cực từ trên mặt băng xuống sâu đến tận đất, các nhà khoa học dùng tỉ lệ đồng vị oxygen 18 và oxygen 16 để kiến tạo lại nhiệt độ trong khoảng 120000 năm cách đây, cho thấy thời kỳ Holocene, khi thời kỳ băng hà cách đây 12000 năm chấm dứt, là thời kỳ mà sự thay đổi khí hậu nhiệt độ ít biến động và thay đổi với mực độ không to lớn so với thời băng hà ở kỷ nguyên Pleistocene. Thời kỳ băng hà này có nhiều sự thay đổi lớn lao đột ngột qua giai đoạn ấm rồi trở lai lạnh (xem Hình 2c). Những biến động từ lạnh đến ấm trong thời băng hà được gọi là biến động Dansgaard-Oeschger, và ngược lại từ ấm đến lạnh là biến động Heinrich.
Trong giai đọan chuyển tiếp từ thời băng hà đến Holocene lúc nhiệt độ tăng và ấm trong một thời gian thì thình lình cách đây 12000 năm, nhiệt độ giảm mạnh thay đổi khí hậu trở lại lạnh như trong thời băng hà. Thời kỳ này các nhà khoa học khí hậu gọi là Young Dryas. Đây cũng là lúc con người phải sống dựa vào thực vật, bước ra khỏi thời đá cũ và kỷ thuật canh nông trồng trọt ra đời. Thời Young Dryas rất ngắn, sau đó khí hậu trở lại ấm và đi vào kỷ nguyên Holocene ngày nay. Vào thời Holocene, cách đây khoảng 8200 năm (6200BC), hơn 3000 năm sau Young Dryas, nhiệt độ bổng nhiên tụt xuống lạnh trong vòng 60 năm, làm vùng Mesopotamia (gần Iraq ngày nay) bị hạn hán, tàn phá canh nông. Đa số con người phải bỏ đi, xuôi theo sông Tigris và Euphrate xuống hạ lưu gần vịnh Ba Tư và từ đó canh nông dẫn nước ra đời. Và sau cùng cách đây 4200 năm (2200BC), sự thay đổi khí hậu đột ngột đã làm vùng Sahara xanh tươi, ẩm và ấm trở thành sa mạc và nền văn minh Harappa, ở lưu vực sông Ấn Hà (Indus), cũng như nhiều đế quốc và triều đại ở Cận đông và Ai Cập biến mất.
(a) Địa lý - Động vật và thảo vật
Cả vùng biển hiện nay từ nam mũi Cà mau, vịnh Thái Lan đến các eo biển giữa các đảo Sumatra, Borneo, Java đều rất nông cạn và được gọi là thềm Sunda (Sunda shelf). Trong thời kỳ băng hà Pleistocene từ cách đây 20000 đến 18000 năm, thềm Sunda còn ở trên mặt nước biển. Lúc nước biển còn thấp (từ 100m đến 150m dưới mực nước hiện nay) thì phần lớn thềm lục địa ở biển Đông và cả vùng vịnh Thái Lan, nam Việt Nam nối dài với bán đảo Mã Lai vẫn còn là đất liền trên mực nước biển hiện nay và các đảo lớn ở Nam Dương, như Sumatra, Java, Borneo, Bali .. còn gắn liền với lục địa Á châu. Hình 1 chụp từ vệ tinh cho thấy rõ thềm Sunda nối với các đảo tạo thành Sundaland gắn liền với lục địa Á châu.Vết tích của thời kỳ này còn có thể tìm thấy được qua nghiên cứu về sự phân phối các động vật trên các vùng ở Đông Nam Á.
Tê giác 1 sừng, Rhinoceros sondaicus, trước đây không lâu (đầu thế kỷ 20) còn sống ở vùng rộng lớn trãi dài từ Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam, Cam Bốt, bán đảo Mã Lai, Sumatra và Java. Ngày nay, do sức ép và sự bành trướng của con người ảnh hưởng đến môi trường sống, chúng chỉ còn ở Java và một ít ở Việt Nam thuộc khu vực rừng quốc gia Nam Cát Tiên, Lâm Đồng. Cũng vậy, tê giác 2 sừng loại Sumatran rhino (Dicerorhinus sumatrensis) hiện hữu trong môi trường sống từ Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, đến đảo Sumatra và Borneo.
Loài Orang Utan (“người rừng”), hiện nay vẫn còn ở rừng nhiệt đới nóng ẩm Sumatra và Borneo, cho ta thấy là khi xưa lúc Borneo còn gắn liền với Sumatra và lục địa Á châu, chúng đã đi lại qua các vùng nhiệt đới xích đạo ở hai nơi (1). Lạ hơn là giống Orang Utan ở Tây Nam Borneo và Sumatra rất gần gụi giống nhau hơn là giữa Orang Utan phía Tây Nam Borneo và các nơi khác trên cùng đảo Borneo. Thêm một sự kiện nữa là các giống cá ở sông Kapuas, phía tây Borneo hầu như giống y như các loài cá ở các sông phía đông đảo Sumatra mà lại rất khác với các giống cá ở sông Mahakam phía đông Borneo cách sông Kapuas qua một rặng núi mà thôi. Điều này cho thấy xưa kia sông Kapuas và các sông ở phía đông Sumatra có cùng chung một lưu vực (catchment) nối liền hai đảo Sumatra và Borneo hiện nay.
Cũng vậy loài voi hiện diện ở khắp vùng Nam lục địa Á châu từ Sri Lanka, Ấn độ, Miến Điện, Thái Lan, Nam Trung Quốc (Vân Nam), Đông Dương, Mã Lai đến các đảo hiện nay Sumatra, và Borneo. Loại voi, Elephas maximus sumatranus, ở đảo Sumatra và Borneo giống như loài Elephas maximus maximus ở Sri Lanka và Elephas maximus indicus ở Ấn độ và các nơi khác.
Các dữ kiện trên cho thấy Sundaland trước thời biển tiến là vùng đất lớn nối các đảo Đông Nam Á với lục địa Á châu cho phép các loại động vật đi lại phát tán trên vùng này. Con người cũng đã đi đến lục địa Úc châu từ Đông Nam Á và Sundaland qua các eo biển hẹp ngăn cách Úc với Sundaland. Con người đã đến Úc cách đây hơn 50000 năm, sớm nhất từ Phi Châu, trước khi có đợt hai từ Trung Đông đến Âu châu.
Vào thế kỷ 19, nhà sinh học Wallace đã quan sát, nghiên cứu các động vật ở các đảo Indonesia. Ông tìm thấy có 48 loài động vật giống nhau ở bán đảo Mã Lai, đảo Sumatra, Borneo và Java. Trong số này có 7 loài vượn khỉ là những động vật sống trong rừng, không bao giờ lội và chắc chắn không thể vượt qua được 1 dặm nào ở biển; 19 loài thú săn, một vài trong số này có thể lội nước vượt biển, nhưng chúng ta không thể nói rằng có nhiều loài trên vượt qua được các eo biển rộng từ 30 đến 50 dặm cách xa hai bờ (trừ 1 eo hẹp hơn 30 dặm), và 5 loài thú có sừng, ngà, gồm loài heo vòi (tapir), 2 loài tê giác và 1 loài voi (đã đề cập như trên).
Ngoài ra còn có 13 loài chuột, 4 loại ăn bọ, gồm có chuột chù (shrew-mouse) và 6 loại sóc mà sự vuợt biển qua hơn 20 dặm còn khó cho ta có thể tưởng tượng hơn là các loài thú lớn hơn. Điều trên cho thấy là trước đây đã có thời kỳ các đảo này nối chung với lục địa Á châu.
Trái lại đảo Celebes và các đảo xa hơn băng qua đường gọi là “đường Wallace” (Wallace line) chạy qua giữa biển của hai đảo Borneo và Celebes đã không nối với lục địa Á châu trong thời băng hà đã qua trước đây. Vì độ sâu ở biển giữa đảo Celebes (Sulawesi) và Borneo rất sâu, nên ngay cả khi mực nước biển thấp hơn hiện nay hơn 100m, eo biển vẫn còn là biển chia cách hai đảo. Đảo Celebes từ 160 triệu năm tách rời từ lục địa cổ Gondwana (cũng như Madagascar tách rời Phi Châu trong khoảng thời gian này). Vì thế Celebes biệt lập từ lâu đời và nơi đây có nhiều loài thú đặc biệt khác với Á châu và không nơi nào khác chung quanh vùng có như loài khỉ Tarsier spectrum (giống con lemur ở Madagascar), một loại khỉ nhỏ khoảng 10cm và đuôi dài 20cm, và một loài thú lạ kỳ giống loài heo mà ta thường biết gọi là Babirusa.
Cả hai tương tự như các loài sống ở Phi châu hơn là Á châu. Heo Babirusa đặc biệt có răng nanh hàm trên cong vòng gần đến mắt, giống như ngà voi. Hình dáng bên ngoài giống như hà mã. Thật ra loài liên hệ gần giống với heo Babirusa là loài tổ tiên của hà mã sống cách đây 30 triệu năm được tìm thấy trong các hóa thạch ở bắc bán cầu. Hoá thạch của con hà mã sơ khai (Merycopotamus) đã được tìm thấy ở Siwalik, Ấn độ. Đây có thể là tổ tiên của loài heo Babirusa hiện nay. Sống biệt lập hàng triệu năm, heo Babirusa đã tiến hóa ở đảo Celebe đến một dạng không giống loài heo nào trên thế giới.
Ở đảo Celebes, nếu không tính các loài dơi, thì các loài thú vật có vú hoàn toàn 100% chỉ nơi đây mới có (endemic), hơn cả Úc châu. Úc châu, một lục địa đảo đặc biệt, cũng chưa có tỷ lệ số lượng như vậy. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt của đảo Celebes, thì nói chung đường Wallace chạy dài ngăn chia từ giữa đảo Bali và Lombok lên giữa Borneo và Celebes và là ranh giới động thực vật giữa Á châu và Úc. Phía bên trái là các đảo Bali, Java, Borneo, Sumatra. Phía bên phải là các đảo Celebes, Flores, Timor, Lombok, Sumba và các đảo trong quần đảo Moluku gần New Guinea và Úc. Cũng như đảo Celebes, trên đảo Flores có nhiều đông thực vật khác với các đảo bên trái đường Wallace: có loài voi nhỏ Stegodon sondaari lớn bằng con trâu nước đã tuyệt chủng, và vào năm 2004 đã tìm thấy hài cốt của người xưa bé lùn (homo floresiensis) mà giới khoa học nhân chủng và khảo cổ đã nghiên cứu tranh luận xôn xao gần đây.
(c) Con người
Trước khi biển tiến cách đây 14,000 năm thì thềm Sunda vẫn còn trên mực nuớc biển, nối liền lục địa Á châu với các đảo Sumatra, Borneo, Java. tạo thành Sundaland cho phép người cổ Đông Nam Á phân tán và đi qua các “cầu đất liền” trên vùng rộng lớn này.
Thời đá cổ (Paleolithic) và đá mới
Tiến bộ của khoa học di truyền gần đây cho thấy con người hiện đại đã khởi xuất từ Đông Phi qua nhiều đợt di cư đã đến Á châu, Trung Đông và phát tán đi đến các nơi khác. Đợt di cư đầu tiên trong thời kỳ đầu băng hà là dọc đường biển nam Arabia, Nam Ấn Độ (ghé các đảo Andaman, Nicobar hiện nay ở Ấn Độ Dương gần Miến Điện) đến Đông Nam Á và đến Úc châu. Người thổ dân Úc châu hiện nay là các giống dân lâu đời, cũng như người Dravidian (Nam Ấn), người Melanesian ở Guinea, người Orang Asli trong rừng ở bán đảo Mã Lai và các giống bộ lạc còn sót lại trong rừng rậm ở các đảo Andaman như các bộ lạc người Jarawa, Onge. Nghiên cứu di truyền về các tộc trên cho thấy họ là những giống người cổ ở Á châu vẫn còn sống trong rừng khi người thời đá mới với kỷ thuật canh nông xuất hiện sau này (10). Ngôn ngữ của họ thuộc loại ngôn ngữ cổ Indo-Pacific.
Người thổ dân Andaman lùn đen, giống người pygmie ở Phi châu và các thổ dân negritos Orang Asli như Semang, Aeta, Boloven ở rừng rậm Mã Lai và Phi Luật Tân. Hiện nay còn rất ít chỉ dưới 500 người, họ là hậu duệ của người cổ thời đá cũ. Nghiên cứu di truyền học gần đây cho thấy sự liên hệ của họ với các giống thổ dân ở Úc châu hiện nay. Về hình dáng bên ngoài, khó có thể phân biệt và ta thấy sự giống nhau rất nhiều giữa người Semang với người thổ dân Úc hiện nay.
Một bộ xương hầu như còn nguyên vẹn đã được tìm thấy tại một di chỉ gọi là Gua Gunung Runtuh ở Mã Lai vào đầu thời kỳ Holocene. Phân tích bộ xương này cho thấy xương rất giống thổ dân Úc ngày nay ở hình thái răng và chân tay (3), và giống những mẫu sọ người ở thời kỳ Mesolithic (đá trung kỳ) ở Mã Lai và đảo Flores. Sự khám phá này, cùng với các xương tìm thấy ở Tabon và Niah, cho thấy những người cổ ở Sundaland trong thời Pleistocene muộn có thể là tổ tiên của người thổ dân Úc hiện nay. Các đặc tính qua đo lường ở răng và xương chân ở người cổ Sundaland cho thấy các đặc tính này vẫn còn thấy ở các dân cư trong vùng Đông Nam Á cho đến đầu thời kỳ Holocene. Tuy vậy các khác nhau ở đặc tính về sọ đã được tích tụ từ cuối thời kỳ Pleistocene ở thổ dân Úc và các dân cư đầu tiên vùng Đông Nam Á so với các sọ cổ Sundaland.
Cách đây từ khoãng 20000 đến 10000 năm, những giống dân cư này bắt đầu toã ra đi đến cư ngụ ở vùng thượng du phía bắc và nam Đông Nam Á. Từ đó trong những môi trường mới, họ bắt đầu thuần hóa các cây quả và thú vật lần lần một cách có hệ thống. Sự kết hợp đời sống đánh cá với hái lượm trong rừng, và sự vun xới các cây như cây đậu, đã cho phép họ thiết lập được đời sống vĩnh viễn, không đi đâu xa, ở các hang, chủ yếu là gần nguồn nước; đây là cách sống lần lần được các nhóm khác, sống trãi rộng trong khắp vùng, tiếp thu và thâu nhận.
Văn hóa của những nhóm người này được gọi là văn hóa Hòa Bình, do sự khám phá các di chỉ có cùng đặc tính chung vào đầu thế kỷ 20 đầu tiên ở tỉnh Hòa Bình, Việt Nam. Sau này các di chỉ tương tự được khám phá ở nhiều nơi khác trong vùng Đông Nam Á. Các đặc tính chung mà ta có thể thấy được về kỹ thuật, tập quán và đời sống hàng ngày trước đây và cho đến tận ngày nay của nhiều sắc dân ở Đông Nam Á.
Năm 1933 là năm mà bà M. Colani, nhà thực vật học và khảo cổ Pháp, đã khám phá ở các hang đá vôi và hầm ở tỉnh Hòa Bình là các nơi trú ngụ của người xưa với các dụng cụ đá sỏi dẻo thô sơ. Bài báo cáo khoa học của Colani trên tạp chí của trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp đã đưa ra ánh sáng đầu tiên của văn hóa cổ gọi là “Hòa Bình”.
Hang Con Moong, một di tích khảo cổ phát hiện vào năm 1977, trong vườn quốc gia Cúc Phương, cho thấy người Hòa Bình đã cư ngụ lâu đời trong hang với nhiều dụng cụ đá đẻo và các xương động vật như sóc, khỉ, chó, heo, tê giác, bò (rừng), hưu và các võ sò, trai, ốc. Người Hòa Bình là ai?. Trong hang Con Moong còn tìm thấy nhiều hài cốt, đa số xương đã mũn nát, nhưng còn một bộ với răng sọ, cho thấy chủng tộc là Australoid negrito (6).
Tại đây đã phát hiện các tầng văn hóa (5) chia ra như sau: tầng trên là văn hóa Hòa Bình III, tiếp nối với văn hóa Bắc Sơn, có rìu mài lưỡi và gốm, tầng kế dưới là văn hóa Hòa Binh II cổ điển mà Colani đã phát hiện và mô tả và tầng cuối cùng là văn hóa Hoà Bình I với công cụ đá đẻo rất thô sơ có nhiều đặc trưng của nền văn hóa Sơn Vi. Vì thế nhà khảo cổ Phạm Huy Thông đã cho rằng văn hóa Hòa Bình nảy sinh từ nền văn hóa củ hơn, nền văn hóa Sơn Vi.
Tổng hợp các dữ kiện trên có thể cho ta kết luận là người Andaman, Orang Asli (negritos) ở Mã Lai, Phi Luật Tân và thổ dân Úc là hậu duệ không thay đổi nhiều qua thời gian của những người cổ ở Sundaland và chủ nhân của văn hóa Hòa Bình là cư dân về hình thái giống như hay có liên hệ rất gần với các giống dân trên. Nghiên cứu mới nhất (2006) về di truyền mtDNA cho thấy thổ dân Úc có liên hệ sâu đậm với các dân tộc bản sứ ở Papua New Guinea, Malaya, và các đảo Andaman and Nicobar (12).
Cách đây khoảng 14000 năm, mực nuớc biển tăng lên ở cuối thời kỳ băng hà đã cắt đứt các “cầu” đất liền nối các đảo ở phía nam Đông Nam Á với lục địa Á châu. Và qua đó đã làm tăng nhanh quá trình phân hóa và cách ly giữa các văn hoá bản sứ trong vùng đã bắt đầu phát triển, nhất là ngôn ngữ. Tuy vậy sự kiện xảy ra sau đó không phải là một thời kỳ của sự cách ly xa dần của các nhóm mà là sự phát triển cùng thời của các văn hóa bản sứ này dựa trên một nền tảng chung có cốt rễ là văn hóa Hòa Bình thích ứng với điều kiện riêng ở mỗi địa phương, cộng với sự truyền đạt ý tưởng và kỹ thuật đã cho phép các phát minh tỏa ra trong một vùng địa hình thiên nhiên.
Trong thời kỳ mà nhà khảo cổ Wilhem Soldheim gọi là “thời kỳ phát tỏa” cách đây từ khoảng 10000 đến 2000 năm, đã xảy ra ở Đông Nam Á sự phát triển của hầu như tất cả nhu liệu mà ta có thể gắn liền với từ ngữ “văn minh”, không có liên hệ hay du nhập các sáng chế từ bên ngoài vào. Trong thời kỳ này, heo bò và gà vịt đã được thuần hóa và lúa đã bắt đầu được trồng. Ở các vùng gần biển, hay dọc theo các sông rạch, nghề hàng hải bắt đầu từ sự sáng chế ra thuyền có mái chèo. Và người Đông Nam Á đã vượt biển đi xa đến tận Nhật, Melanesia, Ấn Độ, và đảo Madagascar ở bờ biển phía đông Phi Châu.
Kỹ thuật văn hóa Hòa Bình hiện diện ở nhiều nơi ở Đông Nam Á lục địa, ngoài hang ở Hòa Bình, Con Moong còn có thể thấy ở các hang Pha Chang, Moh-Kiew, Lang Rongrien và Lang Kannam ở Thái Lan. Trong hội nghi kỷ niệm 60 năm Colani khám phá di chỉ và văn hóa Hòa Bình năm 1993 ở Hà Nội, các học giả Trung Quốc cũng trình bày những địa điểm khảo cổ ở Nam Trung Quốc có dấu vết của văn hóa Hòa Bình.
Người Hòa Bình đã đến xuống đồng bằng Bắc Việt định cư dọc sông ngòi và bờ biển. Trong khoảng 20000 năm, ho đã tiến hóa song song và có liên hệ với các dân cư khác ở Đông Nam Á hải đảọ Trước khi biển tiến thì Đông Nam Á hải đảo vần còn nối liền với lục địa, miền nam Việt Nam hiện nay và Cam Bốt còn nối với Borneo cũng như vịnh Thai Lan còn là đồng bằng mênh mông.
Biển tiến bắc đầu cách đây 15000 năm mà cao điểm là 14,500 chỉ trong vòng một thời gian ngắn khoảng 300 năm, mực nước biển lên nhanh khoảng 20m đến mực độ cao cách độ cao hiện nay khoảng 80m gần như nhận chìm thềm Sunda (pulse 1A) (7). Thềm Sunda bị chìm hoàn toàn cách đây khoảng 8000 năm.
Lúc bắt đầu thời kỳ biển tiến, người Đông Nam Á dọc bờ biển và sông đã tiến hóa qua môi trường khác với người cổ vẫn còn trong rừng rậm sống hái lượm. người ở đồng bằng vịnh Bắc bộ, Trung Việt, Borneo (như người Dayak), bán đảo Mã Lai, Sumatra, Java đã có sự liên hệ về nhân chủng và văn hóa. Cách đây khoảng 12000 năm vẫn trong thời kỳ biển tiến, thời tiết trên thế giới thình lình trở lại lạnh, khô kéo dài 1300 năm trước khi trở lại ấm bình thường.
Hiện tượng khí hậu này gọi là Young Dryas (tên của một loài cây thuộc họ hồng, hoa trắng sống trong môi trường núi rất lạnh khô cằn, đã để lại dấu vết trong các lớp địa chất) đã làm cuộc sống xã hội loài người thay đổi hoàn toàn, buộc một số phải đi xa sinh sống và còn lại sinh sống bằng canh nông, thuần hóa thú vật. Đây cũng là thời kỳ canh nông và thuần hóa súc vật xuất hiện đầu tiên ở xã hội người vùng Cận Đông. Hiện nay chúng ta chưa biết được cuộc sống của người Hòa Bình đã thay đổi như thế nào trong thời kỳ Young Dryas.
Trong một nghiên cứu di truyền mới nhất (9) về sự liên hệ của người cổ thổ dân negrito ở bán đảo Mã Lai với các giống dân hiện nay ở Đông Nam Á và Đông Á. Qua phân tích mitochondria DNA (mtDNA) từ mẫu tóc của người negrito ở Mã Lai trong bộ sưu tập Duckworth Collection và các nhóm người khác cho thấy lúc đầu họ chỉ trong phạm vi tây nam Trung quốc, bán đảo Đông Nam Á và Indonesia nhưng sau đó họ đã phát tán nhanh chóng khắp Đông Nam Á vào giữa cuối thời băng hà và thời Holocene đá mới cách đây 13000 năm.
2. Đông Nam Á sau biển tiến
Sau biển tiến một thời gian khoảng 10000 năm, Đông Nam Á bắt đầu vào thời đại đồng cách đây gần 2500 năm, gọi là thời kỳ Đông Sơn. Đây cũng là thời kỳ Hùng Vương dựng nước trong lịch sử Việt Nam.
Thời kỳ Đông Sơn là thời kỳ mà dân tộc Lạc Việt và các nhóm Bách Việt khác ở nam sông Dương Tử đã đạt đến trình độ văn minh cao mà trống đồng là những di vật tiêu biểu. Người Đông Sơn là ai ?
So với di chỉ Hòa Bình thì di chỉ Đông Sơn tìm được rất nhiều, tập trung nhiều nhất ở Bắc Việt Nam nhưng có mặt rãi rác khắp Việt Nam, Đông Nam Á, Nam Trung quốc.Nhiều xưong sọ và hài cốt đã được tìm thấy còn nguyên vẹn chưa bị mũn nát, nhất là trong các thuyền mộ táng.Trong bài tổng hợp nghiên cứu các xương sọ (11), người Đông Sơn là chuyển tiếp hổn hợp của chủng Australoid đen và chủng nam Mongoloid, trong quá trình giảm đen. Đặc biệt trong các xương tìm được, có các xương sọ thuần Australoid nhưng không có sọ nào là thuần chủng nam Mogoloid.
Năm 2002, ở làng Đông Xa, tỉnh Hưng Yên, một di chỉ khảo cổ đã được khai quật bởi các nhà khảo cổ Úc (P. Bellwood và J. Cameron, Đại học quốc gia Úc) và Việt Nam (Nguyễn Văn Việt từ Trung tâm Nghiên cứu Tiền sử Đông Nam Á). Ở di chỉ này, đã tìm được các mộ chứa hài cốt và di vật chôn theo của người xưa. Đặc biệt là mộ thuyền dùng để chôn người xưa, trong mộ có gốm thừng, và vài đồng tiền thời Hán làm khoảng từ năm 118 đến năm 220 trước công nguyên (13). Một chi tiết khác là kỷ thuật đóng ghép thuyền đã làm ngạc nhiên nhà khảo cổ Peter Bellwood, dùng lỗ mộng trên ván (mortise) và gỗ mộng (tenon) để nối các mảnh gỗ: một kỷ thuật mà chỉ người La Mã ở Địa Trung Hải trước đây dùng. Phải chăng có sự liên hệ giữa người Đông Sơn và thế giới La Mã ?.
Nhà nhân chủng học và khảo cổ Việt Nam Nguyễn Văn Việt, học trò của nhà sử học nổi tiếng Hà Văn Tấn, chuyên về kiến tạo lại gương mặt người qua xương sọ. Ông Việt học từ Đan Mạch các khóa học nắn đúc dùng đất sét và để tái tạo lại gương mặt từ xương sọ, ông dùng phương pháp của nhà nhân chủng học người Nga Mikhail Gerasimov mà ông đã học và được biết trước đây. Việt là người đầu tiên ở Việt Nam dùng xương sọ để kiến tạo lại gương mặt người xưa. Hình 6 cho thấy bộ mặt của hai người Đông Sơn mà ông đã tái tạo. Công trình của ông đã gây nhiều thảo luận trong giới nghiên cứu khảo cổ và nhân chủng học ở Việt Nam. Nguyễn Lan Cường, nhà khảo cổ nghiên cứu về văn hóa Hòa Bình và Đông Sơn trước đây (6), cho rằng phưong pháp tính toán cơ mặt của ông Việt vẫn còn có nhiều sai số. Tuy vậy ông Cường nói sẽ tiếp nối công việc của Việt trong vài năm tới để tái tạo lại gương mặt và chủng tộc của người Hòa Bình sống cách đây 10000 năm.
Lời kết
Hiện nay chưa ai tái tạo lại hình ảnh người Hòa Bình qua một số rất ít xương sọ tìm được nguyên vẹn vì phần lớn đã bị mũn. Tôi hình dung người Hòa Bình qua các người của các bộ lạc sống biệt lập trong rừng còn sót lại ở Đông Nam Á và người liên hệ là thổ dân Úc. Tôi sống ở Úc đã lâu và có nhiều cơ hội gặp và tiếp xúc với thổ dân Úc. Tôi còn nhớ lúc còn là sinh viên cách đây hơn 25 năm, cả trường đại học Sydney chỉ có một sinh viên gốc thổ dân duy nhất trong số hơn 10000 sinh viên. Hiện nay thì đã có nhiều tiến bộ về tình trạng thổ dân trong xã hội so với trước đây nhưng vẫn còn khoảng cách khá lớn về mức sống . Đa số ít có cơ hội tiến thân trong xã hội.
Ở đảo Tasmania (một tiểu bang của Úc), họ đã bị tuyệt chủng từ cuối thế kỷ 19. Mặc dầu có nhiều bộ lạc khác nhau, nhưng trên toàn lục địa thổ dân hầu như không khác nhau và không thay đổi nhiều trong 50000 năm qua. Họ là người cổ nhất, nhóm người đầu tiên đến từ Phi châu dọc theo ven biển Arabia, Ấn Độ, và Sundaland. Xương tìm thấy ở di chỉ khảo cổ hồ Mungo (nay đã cạn) được định tuổi là hơn 50000 năm, cổ hơn tất cả các xương người hiện đại đã tìm thấy ở Đông Nam Á. Sự thuần chủng của người thổ dân Úc và mối liên hệ của họ với người đảo Andaman và người còn sống trong rừng ở Mã Lai và Phi Luật Tân cho ta nhận diện chung về hình ảnh của người “Hòa Bình” xưa, tổ tiên của nhiều dân tộc ở Đông Nam Á và Nam Trung quốc.
Tài liệu Tham khảo

(1)     Penny van Oosterzee, “Where worlds collide - The Wallace line”, Reed Books Australia, 1997.
(2)     Vietnam news Agency, Ancient faces brought to life, 14/08/2005,http://vietnamnews.vnagency.com.vn/showarticle.php?num=01SUN140805
(3)     Hirofumi Matsumura , Majid Zuraina, Metric analyses of an Early Holocene human skeleton from Gua Gunung Runtuh, Malaysia, Am J Phys Anthropol 109:327-340, 1999.
(4)     Nguyễn Khắc Sử, Hang Con Moong-Giới thiệu và nhận xét, Khảo Cổ Học, tr. 26-35, số 2(22), 1977.
(5)     Nguyễn Huy Thông, Hang Con Moong-Một phát hiện khảo cổ học đáng chú ý ở Việt Nam, Khảo Cổ Học, tr. 36-43, số 2(22), 1977.
(6)     Nguyễn Lan Cường, Di tích người cổ, Khảo Cổ Học, tr. 24, số 2(22), 1977.
(7)     T. Hanebuth, K. Stattegger, P. M. Grootes , Rapid Flooding of the Sunda Shelf: A Late-Glacial Sea-Level Record, Science 12 May 2000, Vol. 288. no. 5468, pp. 1033 – 1035.
(8)     J. Cox, Climate Crash: Abrupt Climate Change and What It Means for Our Future, JHP Press, 2005.
(9)     F. Ricaut, M.Bellatti, M. Lahr, Ancient mitochondrial DNA from Malaysian hair samples: Some indications of Southeast Asian population movements, Am J Hum Biol. 2006 Sep-Oct;18(5):654-67.
(10) K. Thangaraj, L. Singh et al, Genetic Affinities of the Andaman Islanders, a Vanishing Human Population, Current Biology, Volume 13, Issue 2 , 21 January 2003, Pages 86-93.
(11) Hà Văn Tấn chủ biên - Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, Viện khảo cổ học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994.
(12) S. Pellekaan, M. Ingman, J. Roberts-Thomson, R. Harding, Mitochondrial genomics identifies major haplogroups in Aboriginal Australians, American Journal of Physical Anthropology, Volume 131, Issue 2 , April 2006, Pages 282 – 294.
(13) R. Stone, When in Vietnam, build boats as the Romans do, Science 21 Apr 2006, Vol. 312, no. 5772, pp 360-361