Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012

VĂN MINH ĐÔNG NAM Á QUA DI TRUYỀN HỌC


VĂN MINH ĐÔNG NAM Á QUA DI TRUYỀN HỌC

Nguyễn Văn Tuấn
           
Lịch Việt Nam và các nước có liên quan đến văn hóa Trung Hoa dùng 12 con vật làm biểu tượng cho chu kỳ 12 năm. Có lẽ lịch này có nguồn gốc từ nền văn minh nông nghiệp Đông Nam Á cổ xưa, khi mà con người và các loài vật còn sống gần nhau. Bài này sẽ bàn về nguồn gốc của con heo và ý nghĩa nguồn gốc con người qua những nghiên cứu khoa học mới nhất.
Heo được thuần hóa từ khi nào?
Trong ba con vật cuối cùng (gà, chó và heo) có mối liên hệ gần với con người hơn các con vật như chuột, trâu, cọp, v.v... Thuở sinh thời, một cựu thủ tướng Anh từng tuyên bố “con chó ngước lên nhìn chúng ta, con mèo thì nhìn xuống chúng ta, còn con heo thì ngang hàng với chúng ta”. Có lẽ đúng như thế. Trong ba con vật cuối cùng của 12 địa chi (gà, chó và heo), heo là con vật có thể nói đã từng song hành với con người trong suốt quãng đường dài tiến hóa. Nhưng trong bối cảnh và môi trường nào đã dẫn đến mối liên hệ mật thiết giữa con người và heo như ngày nay. Tất nhiên là heo nuôi bây giờ có nguồn gốc từ heo rừng. Nhưng chúng được thuần hóa từ hồi nào và ở đâu?
Đây là những câu hỏi quan trọng, vì thuần hóa cây cối và thú vật rừng là một phát triển rất quan trọng trong lịch sử tiến hóa và văn minh của con người. Thuần hóa là yếu tố khởi động và thúc đẩy văn minh, có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, cấu trúc, và phân bố của dân số trên thế giới. Thuần hóa động vật hoang dã là một phần quan trọng trong sự thay đổi hành vi và cách sống của con người, chuyển biến từ cuộc sống hái lượm và săn bắt sang cuộc sống canh tác nông nghiệp và ổn định. Cuộc sống nông nghiệp có lẽ bắt đầu từ thời Pleisteocene (tức khoảng 12.000 đến 14.000 năm về trước) và cuộc sống này có lẽ do hệ quả của tình trạng bất định thời tiết, suy giảm về số động vật rừng làm mồi, và sự bành trướng các cộng đồng ổn định.
Quê hương của heo: Đông Nam Á
Trong quá khứ (trước khi công nghệ sinh học ra đời), các nhà khảo cổ học dựa vào những di chỉ khảo cổ học (chủ yếu là xương sọ) được khai quật từ nhiều vùng khác nhau để đặt giả thuyết và tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên. Theo các di chỉ này, heo được thuần hóa vào khoảng 9.000 năm về trước ở vùng mà ngày nay thuộc miền Đông Thổ Nhĩ Kỳ [1]. Ngoài ra, cũng có các di chỉ khảo cổ học cho thấy (hay được diễn dịch) là heo cũng từng được thuần hóa vào khoảng thời gian này tại Trung Quốc ngày nay [2]. Nhưng vài thập niên gần đây, với sự phát triển phi thường của di truyền học và sinh học phân tử, giới khoa học đã có một phương tiện mới, chính xác hơn, và đáng tin cậy hơn để truy tìm nguồn gốc heo. Phương tiện đó chính là gien, hay nói chính xác hơn là DNA. Cũng như trong con người, đơn vị cấu trúc cơ bản của heo là DNA. Khác với con người chỉ có 23 nhiễm sắc thể, heo chỉ có 20 nhiễm sắc thể. Vì đặc tính di truyền của DNA, qua phân tích sự phân bố và đồng dạng của các chuỗi DNA giữa các giống heo, các nhà khoa học có thể truy tìm chính xác nguồn gốc của heo. Một nghiên cứu quy mô nhất từ trước đến nay về nguồn gốc heo được tiến hành với sự hợp tác giữa các nhà di truyền học Mỹ và Thụy Điển. Qua phân tích xu hướng phân bố và đồng dạng DNA của các giống heo (700 con) trên thế giới, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng tổ tiên của heo ngày nay chính là heo rừng, và quê hương của heo rừng nguyên thủy này chính là vùng Đông Nam Á ngày nay [3]. Sau khi được thuần hóa ở Đông Nam Á, heo tản mát theo con người đến các vùng Âu Á (Eurasia), vượt biển đến Âu châu, và ra các bán đảo Thái Bình Dương [3]. Sau khi tản mát ra khỏi Đông Nam Á, heo được tiếp tục thuần hóa nhiều lần ở nhiều vùng tại Trung Quốc, vùng cận Đông, và Âu châu [3]. Một nghiên cứu di truyền mới nhất qua phân tích DNA các giống heo thuộc các hải đảo Thái Bình Dương và đặc biệt là heo không lông thuộc đảo Vanuatu, các nhà nghiên cứu Úc và Mỹ khẳng định rằng heo tại các hải đảo này cũng xuất phát và được thuần hóa từ lục địa Đông Nam Á (đặc biệt là từ Việt Nam) khoảng 3.000 năm trước đây [4]. Sau đó, chúng theo con người “di dân” ra khỏi lục địa và đến các hải đảo như Vanuatu và Ryukyu. Ngoài ra, các giống heo tại các hải đảo này cũng có “hồ sơ” DNA rất giống với heo ở Âu châu. Cũng thú vị không kém là các nhà nghiên cứu Úc và Mỹ nhận xét rằng Việt Nam (quê hương của heo ở các bán đảo Thái Bình Dương) là một trong những vùng ở lục địa Đông Nam Á mà ngôn ngữ Nam Á (Austronesian) vẫn còn khá phổ biến. Điều này cho thấy có thể có một mối liên hệ huyết thống giữa các dân tộc hải đảo này và các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Việt Nam. Ước tính về thời điểm thuần hóa và tản mát trên cũng khá phù hợp với các di chỉ khảo cổ tìm thấy ở Việt Nam. Theo các di chỉ này thì nghề chăn nuôi heo ở nước ta được phát triển khá vào thời Hùng Vương. Trong các di chỉ khảo cổ học thuộc thời kỳ Hậu Đồ Đá Mới (tức khoảng 8.000 đến 3.000 năm trước đây) ở khu vực Phùng Nguyên, Đồng Đậu và Hoa Lộc, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy nhiều xương cốt các con vật nuôi trong nhà như heo, chó, trâu bò nuôi, gà, vịt, v.v... [5]. Tại Đồng Đậu, di chỉ khảo cổ học cho thấy nuôi heo khá thịnh hành vào thời Hùng Vương, vì tỉ lệ xương heo trong tầng văn hóa ở đây cao hơn xương heo rừng và các gia cầm khác. Trong sách Việt Nam thời cổ đại, tác giả Bùi Thiết thuật truyền thuyết Pú Lương Quân của dân tộc Tày vùng Cao Bằng kể về vợ chồng Báo Lương và Sao Cải, sau khi đã trồng được nhiều lúa, bèn nghĩ đến việc vào rừng để bắt heo rừng về nuôi, khu rừng bắt được gọi là Đồng Giáo (rừng heo cỏ), nơi nuôi heo gọi là xóm Chóng Mu (xóm Bờm heo), cánh đồng trồng khoai nuôi heo gọi là Bà Non (ruộng Dọc khoai), mà có thể cư dân Tày cổ có nguồn gốc từ người Việt cổ từ sau khi giải thể nhà nước Văn Lang và Âu Lạc [6].
Dấu tích văn minh nông nghiệp
Trước đây vài năm, cũng qua phân tích DNA, các nhà khoa học khẳng định rằng gà và chó trên thế giới ngày nay có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Heo, gà, trâu, v.v... là các con vật thuộc nền văn minh nông nghiệp. Các bằng chứng mới này càng phù hợp với giả thiết rằng nền nông nghiệp và quê hương nguyên thủy của cây lúa nước là ở chung quanh vùng Đông Dương - Mã Lai - Miến Điện (chứ không phải Trung Quốc, nơi mà bằng chứng về cây lúa lâu đời nhất chỉ 5.900 đến 7.000 năm về trước, thường thấy ở các vùng xung quanh sông Dương Tử). Văn minh Hòa Bình là nền văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới, khoảng 15.000 năm trước dương lịch [7]. Vài ngàn năm trước Công nguyên, cư dân Đông Nam Á đã đưa cây lúa đến vùng Đông Á và Tây Á, những nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa mạch. Nhận xét này cũng hợp lý bởi vì với khí hậu nhiệt đới Đông Nam Á là môi trường thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp. Như vậy có thể suy luận rằng trước khi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, vùng Đông Nam Á đã hình thành một nền văn hóa lúa nước, và cư dân cổ ở đây (dân Bách Việt) đã phát triển một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, trong đó có cả văn minh châu thổ sông Hồng, hay văn minh Đông Sơn. Theo GS Trần Quốc Vượng, chính nghề trồng lúa nước (một ngành nghề đòi hỏi người dân phải nắm vững và thích nghi với thời tiết, môi trường sông nước) đã dẫn người cư dân cổ Đông Nam Á sáng tạo ra lịch dùng 12 con vật gần gụi với nền văn minh lúa nước làm biểu tượng. Do đó, có khả năng lịch 12 con giáp có nguồn gốc từ Đông Nam Á, chứ không phải từ Trung Hoa [8]. Có thể qua giao lưu văn hóa, người Trung Hoa cổ đã vay mượn lịch Đông Nam Á và cải tiến lại. Do đó, 12 con vật trong lịch của ta không giống với 12 con vật trong lịch của Trung Hoa (thử, ngưu, hổ, miêu, long, xà, mã, dương, hầu, kê, khuyển, trư).
Nhận xét trên có cơ sở. Qua phân tích mối tương quan di truyền giữa các sắc dân trên thế giới, giới khoa học có thể khẳng định rằng con người hiện đại di dân ra khỏi Phi châu và đến Á châu vào khoảng 100.000 năm trước đây. Trong đợt di dân đầu tiên họ đến vùng Trung Đông, nhưng không thể định cư được vì thời tiết khắc nghiệt, sau đó có thể họ phải làm thêm một hành trình thứ hai từ Trung Đông đến tận vùng Đông Nam Á châu và định cư tại đây [9]. Từ Đông Nam Á, họ lại di cư một lần nữa: nhóm một đi về hướng Nam ra Úc châu và Tân Guinea; nhóm hai đi về hướng Bắc đến Trung Quốc và Nhật Bản, và cuộc di dân này xảy ra vào khoảng 55.000 năm trước đây. Điều này cũng phù hợp với các dữ kiện di truyền gần đây cho thấy người Trung Hoa ngày nay, nhất là người Trung Hoa ở phía Nam Trung Quốc rất gần và có tổ tiên ở vùng Đông Nam Á châu [10-11]. Một nghiên cứu mới nhất [12] phân tích DNA trong 2.332 người từ các vùng Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc một lần nữa khẳng định nguồn gốc con người là Đông Nam Á. Họ còn ước tính cuộc di dân về phương Bắc xảy ra vào khoảng 3.000 đến 25.000 năm về trước. Tất cả những bằng chứng này cho thấy Đông Nam Á có thể là một cái nôi văn minh nông nghiệp đầu tiên của con người [11], và cư dân tại đây rất có thể là những người phát minh ra kỹ thuật trồng lúa nước, chăn nuôi, và truyền các kỹ thuật này lên phía Bắc (tức miền Nam Trung Quốc ngày nay). Phát hiện mới nhất về quê hương Đông Nam Á của loài gà gia cầm cho chúng ta thêm một cơ sở để suy luận rằng trong quá trình định cư và phát triển nông nghiệp, người Đông Nam Á cổ đã thuần dưỡng giống gà rừng, và từ đây giống gà này được truyền bá đến miền Nam Trung Quốc, và từ Trung Quốc “di cư” sang Âu châu. Những phát hiện này, cộng với những di chỉ khảo cổ học và di truyền học mới nhất củng cố thêm cho giả thuyết Đông Nam Á là một trung tâm văn minh nông nghiệp cổ xưa nhất của thế giới [13].
------------------------------------------Tài liệu tham khảo
1. Epstein, M Bichard, trong cuốn Evolution of Domesticated Animals do I L Mason biên soạn. Longman, New York, 1984, trang 145-162.
2. G Giuffra, et al. Genetics 2000; 154:1785-1791.
3. G Larson, et al. Science 11/3/2005; 307:1618-1621.
4. J K Lum, et al. Proc Natl Acad Sci USA 2006; 103:17190-17195.
5. Lê Xuân Diệm, Hoàng Xuân Chinh. Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu. Viện khảo cổ học, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội: 1983, trang 81.
6. Bùi Thiết. Việt Nam thời cổ xưa. Nhà xuất bản Thanh Niên (không thấy đề năm in!)
7. Chesnov Ja. V. Dân tộc học lịch sử các nước Đông Nam Á. 1976. (Trích dẫn theo Trần Ngọc Thêm, “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
8. Trần Quốc Vượng. Văn hóa Việt Nam: Tìm tòi và suy ngẫm. Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Hà Nội, 2000.
9.Nguyễn Văn Tuấn. Nhân năm khỉ bàn chuyện nguồn gốc con người. Tạp chí Diễn đàn, số xuân Nhâm Thân 2004.
10. Chu JY, et al. Proc Natl Acad Sci USA 1998; 95: 11763-11768.
11. Su B, et al. Am J Hum Genet 1999; 65:1718-1724
12. Shi et al. Am J Hun Genet 2005; 77:408-419
13. Trong cuốn Agriculture; origin and dispersal, Giáo sư C. O. Sauer viết: “...Tôi đã chứng minh rằng những động vật gia cầm được thuần dưỡng đầu tiên ở Đông Nam Á, và đây chính là trung tâm nông nghiệp quan trọng của thế giới”.

Đông Nam Á trong tiến trình văn minh nhân loại


Đông Nam Á trong tiến trình văn minh nhân loại

Hà văn Thùy

Trong bài “OPPENHEIMER VÀ CHU THỰC SỰ NÓI GÌ?” đăng trên tạp chí Tia sáng số ra ngày 17.11.2008, tác giả Đỗ Kiên Cường viết:

“Có thể tóm lược các quan điểm cơ bản của Oppenheimer trong Địa Đàng ở phương Đông như sau: 1) Đông Nam Á là cái nôi đầu tiên của nông nghiệp, xét trên phạm vi toàn cầu, chứ không phải vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu; và chính người Đông Nam Á đã truyền kĩ thuật trồng lúa nước cho người Hán, chứ không phải ngược lại; 2) Đông Nam Á là cội nguồn của nhiều yếu tố trong các nền văn minh phương Tây. Ngoài ra là quan điểm ít quan trọng hơn: Người Đông Nam Á, chứ không phải người Trung Quốc, đã thiên di tới vùng Đa Đảo (Polynesia) phía Nam Thái Bình Dương…”

Sau những dòng phân tích, ông kết luận:

“Có thể nói một cách tổng quát rằng, giả thuyết phụ của Oppenheimer (người Đông Nam Á tràn xuống vùng Đa Đảo) có thể là sự thật. Tuy nhiên cũng không nên bác bỏ vai trò của người Trung Quốc, khi Đài Loan được xem là nơi phát tích của ngữ hệ Nam Đảo, là ngữ hệ của vùng PolynesiaVà trong hai quan niệm căn bản thìmột cần xem xét lại (Đông Nam Á là nơi phát triển nông nghiệp đầu tiên), còn một sai hoàn toàn (Đông Nam Á là nguồn gốc văn minh nhân loại) (HVT nhấn mạnh).”

Nói như trên, chứng tỏ ông Đỗ Kiên Cường thiếu hụt kiến thức rất cơ bản về văn hóa học: nơi phát triển nông nghiệp đầu tiên là gì nếu không phải là cội nguồn văn minh nhân loại? Chính vì thế, nhận định của ông Cường trở nên vô nghĩa!
Vì ông Cường không biết nghe nên không còn gì để nói. Ở đây tôi xin trình bày lại với bạn đọc những điều bị ông Cường hiểu sai và làm rối.

1. Đông Nam Á là cái nôi nông nghiệp đầu tiên và cũng là cội nguồn văn minh nhân loại.
Thế kỷ XIX, từ vùng đất nghèo di chỉ của mình, các nhà khảo cổ châu Âu sững sờ khi phát hiện ra nền văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà. Những dấu vết hạt lúa 7000 tuổi được tìm thấy ở Mesopotamia tỏa ra ánh sáng rực rỡ. Từ đấy, vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu được cho là trung tâm nông nghiệp đầu tiên của nhân loại. Quan niệm đó trở thành kinh điển.
Nhưng tới nay, khoa học tiến những bước dài, khiến những hiểu biết như vậy thành lỗi thời.

Xin đọc:
“Nguồn gốc lúa gạo trồng trọt ở Trung Quốc xuất hiện khoảng 10, 000 BC, phù hợp với khảo cổ học tiền sử và kết quả phân tích những vết tích thực vật học cổ Trung Hoa. Hai địa điểm là Hang Xianren trong vùng Vân Nam, tỉnh Giang Tây, và Dốc Đứng Yuchan trong vùng Dao, tỉnh Hồ Nam thuộc đồng bằng sông Dương Tử, nằm trong khu vực cận nhiệt đới nam Trung Hoa”

Và:

“Những vết tích văn hóa chính là Văn hóa Pengtoushan, Văn hóa kiểu Jiahu tại văn hóa Peiligang, và địa điểm Shangshan trong vùng Pujiang thuộc thung lũng sông Qian- tang.

Những địa điểm Văn hóa Pengtoushan nằm tại đồng bằng xung quanh hồ Động Đình và khu vực dọc theo sông Dương Tử phía tây tỉnh Hồ Bắc. Tuổi của những di chỉ này khoảng 6500-5500 BC. Nhiều vết tích lúa trồng trọt được tìm thấy trong lòng đất cung cấp bằng chứng về sự phát triển của nghề trồng lúa.

Những di chỉ kiểu Jiahu (Giả Hồ) của văn hóa Peiligang thì phân tán ở trung tâm và phía đông đồng bằng tỉnh Hà Nam, được định tuổi khoảng 6800-5500 BC. Nhiều vết tích lúa trồng  được tìm thấy tại Jiahu thuộc vùng Wuyang. Những công cụ được khai quật chủ yếu là sa thạch, phần lớn trong số đó được chế tác bởi phương pháp mài nhẵn. Trong những công cụ đó có thể nhận ra cái mai đá, cái liềm, con dao, cối xay đá, cái gậy đá cối xay, cái mai xương ... Dấu hiệu quan trọng nói lên sự phát triển của nông nghiệp sơ cấp là sự xuất hiện những công cụ đá mài.” (2)

Như vậy là đã rõ: vết tích sớm nhất của lúa trồng ở Trung Hoa có tuổi 12.000 năm, giai đoạn muộn hơn, có tuổi gần 9000 năm, có nghĩa sớm hơn Lưỡng Hà ít nhất là 5000 năm.
Nơi nào sớm hơn khỏi cần bình luận!

Từ khẳng định trung tâm nông nghiệp đầu tiên là Đông Á, ta có thể đẩy lên mức cụ thể hơn: nam Trung Hoa hay miền bắc Việt Nam?

Nhiều bằng chứng cho thấy, đó là Việt Nam:

1. a. Các nghiên cứu di truyền (Y. Chu, S. Oppenheimer) chỉ ra, người từ Việt Nam đi lên Trung Hoa khoảng 40.000 năm trước. Phù hợp với dữ liệu di truyền, khảo sát thực địa cho thấy những di chỉ trồng lúa kể trên đều ở Nam Trung Hoa, địa bàn sinh sống lâu đời của người Việt cổ. Như vậy, người Việt cổ là chủ nhân của những di chỉ này. Ta lại biết, người Việt cổ mang văn hóa Hòa Bình lên phía Bắc Trung Hoa và tạo dựng văn hóa Ngưỡng Thiều (3). Công cụ đá mài kiểu Hòa Bình - được coi là chỉ dấu quan trọng của văn minh nông nghiệp - cũng có mặt tại những di chỉ trên. Ta cũng biết, ngay từ giữa thế kỷ XIX, trong cuốn Nguồn gốc các loài, Darwin đã viết: “Tổ tiên tất cả các loài gà trên thế giới hiện nay đều từ con gà rừng duy nhất được thuần hóa tại Đông Nam Á.” Giống như gà, loài chó cũng được người Đông Nam Á thuần dưỡng đầu tiên. Lợn cũng vậy. Từ những bằng chứng đó, ta có thể suy ra một cách khả tín: Hòa Bình Việt Nam là trung tâm nông nghiệp đầu tiên.

2. b. Giới khoa học hiện nay cho rằng, trồng kê là văn hóa bản địa của dân cư vùng hoàng thổ Hoàng Hà. Nhưng từ khảo cứu của mình, tôi phát hiện, cây kê cũng được trồng đầu tiên tại Đông Nam Á, với chứng cứ như sau:
- Hiện nay kê được trồng phổ biến khắp Đông Nam Á trong vai trò lương thực phụ.
- Trong tiến trình nông nghiệp Trung Hoa, cây kê luôn theo sát cây lúa từ sông Dương Tử tới Hoàng Hà. Có nghĩa là, trong vùng trồng lúa, kê tồn tại như lương thực bổ trợ.
- Huyền thoại “Ngôi sao bầu trời bú sữa con heo”(4) của dân bản địa Đài Loan và của người Ba Na Tây Nguyên nói rằng: “Trong cơn hồng thủy, một con heo đực đã phá tung  đoạn đập chắn, cho nước rút đi, cứu được loài người. Nước rút, nhờ có cây kê cuối cùng mà loài người được cúu sống.”

Từ những chứng cứ trên, có thể đưa ra giả thuyết: Khoảng 20.000 năm trước, băng hà bao trùm Trái đất. Mực nước biển thấp hơn hôm nay khoảng 100 mét. Đông Nam Á có khí hậu khô hạn. Do đặc tính thực vật học của nó nên cây kê được thuần dưỡng đầu tiên và là lương thực chính của cư dân Đông Nam Á. Khoảng 15.000 năm trước, băng tuyết tan, nước biển dâng, mưa nhiều hơn. Khí hậu Đông Nam Á trở nên ẩm. Lúc này cây lúa nước được phát minh và thay thế cây kê, trở thành lương thực chính. Những người Hòa Bình đi lên phía bắc mang theo cây kê rồi lúa nước tới lưu vực sông Dương Tử, Hoàng Hà. Ở nam Hoàng Hà, trên vĩ độ 35, cây lúa nước không thích nghi nổi nên cây kê giữ vai trò cây lương thực chính yếu. Văn hóa trồng kê Bonfo (Bán Pha) hình thành.

Những phân tích trên cho thấy Đông Nam Á là cái nôi của nông nghiệp thế giới.

Ở trên là cách tiếp cận trực tiếp. Còn cách tiếp cận khác cũng cho thấy Đông Nam Á là cội nguồn văn minh nhân loại.

Muốn biết đâu là nguồn cội của văn minh nhân loại, điều mấu chốt là phải biết dân cư vùng đó được hình thành ra sao?
Nhờ công nghệ gene, ta biết rằng, 85.000 năm trước, Homo sapiens từ châu Phi di cư tới bán đảo A Rập. Một bộ phận đi tiếp tới Đông Nam Á. Tới Việt Nam khoảng 70.000 năm trước, hai đại chủng Australoid và Mongoloid hòa huyết cho ra 4 chủng Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid (Nguyễn Đình Khoa, 1983). Khoảng 40.000 năm trước, do trời bớt lạnh, người Việt cổ đi lên Trung Quốc, qua cao nguyên Tây Tạng sang Trung Á rồi vào châu Âu.

Trong khi đó, những người nằm lại đất A Rập chủ yếu thuộc đại chủng da trắng Europid. Bị kẹt bởi Hồng Hải phía nam và bức thành băng hà phía bắc, họ sống khó khăn trên dải đất hẹp. Nhân số tăng chậm và văn hóa cũng chậm theo.

Khoảng 52.000 năm trước, do trời bớt lạnh, người từ đây lên Trung Đông và 40.000 năm trước, băng qua eo Bosporus vào châu Âu. Tại đây, họ gặp số lượng lớn người Australoid từ châu Á sang và hòa huyết thành tổ tiên người châu Âu Europians. Cũng nơi này, họ gặp người Neanderthals bản địa.

Khoảng 35.000 năm trước, một đợt lạnh dữ dội xảy ra, đẩy người Europians vào tình trạng khó khăn nhưng lại dẫn người Neanderthals đến tuyệt diệt cách nay 24.000 năm.
Chỉ khoảng 10.000 năm trước, thời Băng hà cuối cùng chấm dứt, người Europians mới từ giã săn hái để chuyển sang phương thức sống du mục.

Khoảng 8000 năm trước, khí hậu vùng Trung Đông trở nên thuận lợi, việc trồng trọt manh nha xuất hiện.

Khoảng 7500 năm trước, Đại hồng thủy xảy ra. Những “nhà thông thái phương Đông” tới trên những chiếc thuyền Noah, cung cấp tư tưởng nông nghiệp cùng giống cây và gia súc cho khu vực. 7000 năm trước, Mesopotamia thành trung tâm nông nghiệp của vùng Tây Á, sau Đông Nam Á ít nhất 5000 năm.

Ông Đỗ Kiên Cường viết:
“Trước năm 2000, tuy đã có thông tin ban đầu về con đường phía Bắc, nhưng giới khoa học cho rằng, khoảng 60.000 năm trước, người hiện đại từ châu Phi tới Ấn Độ và Đông Nam Á theo con đường phía Nam, men theo bờ Ấn Độ Dương (làn sóng rời khỏi châu Phi lần thứ nhất). Và từ vùng Sunda, họ đi tiếp tới Úc, lên Đông và Đông Bắc Á, tới Siberia rồi sang Bắc Mỹ… Ngày nay ta biết rằng, con đường phía Bắc, từ châu Phi sang Trung Đông rồi lên Trung Á (khoảng vùng Bắc Afghanistan và lân cận) mới là đường thiên di chủ yếu. Đây là làn sóng rời khỏi châu Phi lần thứ hai. Hơn 90% số nam giới ngoài châu Phi hiện nay là hậu duệ của những người từng thám hiểm con đường này khoảng 40.000 năm trước… Con đường phía Nam chỉ góp một phần nhỏ vào nguồn gene người Trung Quốc hiện nay mà thôi.”

Một sự lầm lẫn lớn.
Có hai lần con người rời khỏi châu Phi. Đợt đầu khoảng 135.000 năm trước nhưng tới 90.000 năm cách nay bị tuyệt diệt vì lạnh trên đất Israel.
Đợt thứ hai ra đi 85.000 năm trước nhưng do đợt đầu không có kết quả nên  S. Oppenheimer gọi là làn sóng rời khỏi châu Phi lần thứ nhất; S. wells gọi là làn sóng di cư thứ hai khiến một số người (trong đó có người viết bài này lúc đầu) lầm tưởng rằng, “đợt hai” này là đợt di cư từ châu Phi vào Trung Đông. Sự thực không phải vậy, chỉ duy nhất 1 lần rời châu Phi thành công. Những người vào Trung Đông chỉ là những người “ém lại” từ cuộc di cư đó, khi thời tiết khá hơn thì vào Trung Đông.

Khoảng 15.000 năm trước, người từ châu Âu qua Trung Á, trở lại cao nguyên Tây Tạng. Nhưng lúc này Trung Quốc đã khá đông dân nông nghiệp, văn minh hơn và quyết tử bảo vệ đất đai nên những nhóm rời rạc người châu Âu không thể thâm nhập Trung Nguyên mà chỉ đi theo hành lang phía bắc để tới Đông Bắc Á rồi sang châu Mỹ, tạo ra những nhóm thiểu số Altaic, Tungusic, Ainu… Một nhánh khác theo hướng Tây Nam, tạo ra một vài sắc dân thiểu số ở vùng rìa Trung Quốc. Những người mang gene Europians này không có vai trò gì trong mã di truyền người Trung Hoa hiện đại.

Nói: “Con đường phía Nam chỉ góp một phần nhỏ vào nguồn gene người Trung Quốc hiện nay mà thôi” là không đúng thực tế. Một tỷ ba trăm triệu người Trung Hoa hiện nay thuộc chủng Mongoloid phươngNam, là hậu duệ của tổ tiên di cư theo con đường phía Nam. Ông Cường lầm lẫn khi xử lý tư liệu. Đúng là hơn 90% dân cư thế giới ngoài châu Phi là hậu duệ của làn sóng di cư thứ hai  như  S. Wells nói. Nhưng cái “đợt thứ 2” này cũng chỉ là đợt diễn ra 85.000 năm trước!
Ông Cường không biết rằng, con số gần 10% người ngoài châu Phi còn lại kia là con cháu những người Phi bị đưa sang Âu - Mỹ trong 250 năm buôn bán nô lệ!

Ông Cường còn viết: “… khi Nam tiến, người Hán phương Bắc không mang theo phụ nữ; và khi chiếm đất của người phương Nam, họ giết hết đàn ông, đồng thời chiếm đoạt phụ nữ.”
Đúng vậy không? Xin ông chỉ ra, trong sử biên niên Á Đông dòng nào nói rằng “khi xuống phương Nam, người Hán giết hết đản ông, chiếm đoạt phụ nữ”? Ngay ở Việt Nam, với ý đồ đồng hóa  triệt để, các triều Hán, Đường, Minh không hề có chuyện giết đàn ông! Mã Viện để lại những người Mã Lưu nhưng chính những người này dược Việt hóa, trở thành dân Việt. Không giết đàn ông vì không thể giết hết, hơn nữa không cần làm việc này, vì thời đó Việt với Hán cùng một chủng Mongoloid phương Nam! Bowen và đồng nghiệp nói về 3 đợt di dân nam tiến của người Hán: Đợt 1 thời Tây Tấn với khoảng 900.000 người. Đợt 2 vào thời Đường với số lượng lớn hơn. Đợt 3 thời Nam Tống với khoảng 5 triệu người (5). Trong hàng triệu người di cư ấy không có phụ nữ sao? Vì lẽ gì ông Cường bịa đặt, xuyên tạc lịch sử trắng trợn vậy?

Nhân đây cũng xin nói lại về một sự kiện mà nhiều học giả lầm lẫn:
Một thời gian dài, giới khoa học cho rằng tổ tiên người châu Á là từ châu Âu sang. Điều này có thể hiểu được vì thời gian người châu Á sang châu Âu 40.000 năm trước quá xa, hầu như không còn vết tích. Giai đoạn người từ châu Âu trở lại châu Á diễn ra khoảng 15.000 năm trước nên dấu vết còn tìm được. Chính những vết tích này dẫn đến nhiều giả thuyết như của E. Aymonier về tổ tiên người Cambodge … Ngày nay, nhờ công nghệ gene, sự thật mới được phơi bầy. Tuy vậy, không ít người do tham khảo chưa đủ tài liệu nên vẫn giữ quan niệm cũ.

Một lầm lẫn khác cũng từ đây mà ra, được thể hiện trong giả thuyết Chuyến tàu nhanh của Peter Bellwood, cho rằng “Đài Loan được xem là nơi phát tích của ngữ hệ Nam Đảo, là ngữ hệ của vùngPolynesia.” Giả thuyết này dựa vào nhiều bằng chứng khảo cổ, ngôn ngữ và gene xác nhận có việc di cư của người bản địa Đài Loan ra các đảo nam Thái Bình Dương. Sự thể phức tạp hơn: Cuộc di cư này diễn ra khoảng 2600 BC, khi quân Mông Cổ xâm lăng buộc người Bách Việt di tản mà Đài Loan là dịa điểm tập kết đã để lại nhiều vết tích. Nhưng cuộc di cư từ Việt Nam ra các đảo Đông Nam Á 50.000 năm trước hay lên phía bắc 40.000 năm trước hầu như không còn dấu vết nên không được biết đến cho tới khi công nghệ di truyền phát hiện. Ngay cả “người Trung Quốc” mà ông Cường nhắc tới ở đây cũng là người Việt cổ!

3. Tự hào hay không đáng tự hào?

Ông Đỗ Kiên Cường viết:
“Khi tới Trung Quốc lần đầu tiên khoảng 30.000 năm trước, theo hành trình Đông Phi → Trung Đông → Trung Á → Nam Trung Quốc (đồng thời có thể cũng tới Đông Nam Á), Homo sapiens chỉ là Homo sapiens nguyên thủy mà thôi, tức có nước da đen, tóc quăn hay lượn sóng, người thon, răng to, giống người châu Phi bản địa. Các đại chủng như ta hiểu ngày nay chỉ xuất hiện hoàn chỉnh khoảng 10.000 năm trước. Còn các dân tộc chỉ xuất hiện sau đó khoảng 3.000 - 5.000 năm (có thể còn muộn hơn), khi các Nhà nước và quốc gia sơ khai xuất hiện. Chẳng hạn người Hán, một trong những tộc người xuất hiện sớm nhất, cũng chỉ ra đời khoảng 4600 năm trước từ các nhóm người Hoa Hạ sống tại lưu vực Hoàng Hà, phía bắc Trung Quốc ngày nay. Cho dù có Bắc tiến thì đó cũng chỉ là những cuộc Bắc tiến của người da đen từ 30.000 năm trước. Sống tại xứ lạnh mấy chục ngàn năm, họ dần tiến hóa thành người da vàng (đại chủng Á). Và tới Thời đá mới thì họ liên tục di cư xuống phương Nam. Do các cuộc Nam tiến này mà ngày nay tại Đông Nam Á, người da vàng đến sau chiếm đa số so với người da đen bản địa thuộc đại chủng Phương Nam. Có gì đáng tự hào về những cuộc Bắc tiến từ mấy chục ngàn năm trước, nếu có?”

Quả tình không thể hiểu nổi sao lại có sự bất cẩn như vậy trong viết lách?

Ông Cường không thể ngờ rằng, những người vào Trung Đông đó thuộc đại chủng da trắng Europid. Không hiểu vì nguyên nhân nào mà, trong 3 đại chủng rời khỏi châu Phi thì hai đại chủng da đen, da vàng đi sang Viễn Đông còn chủng da trắng dừng lại trên bán đảo A Rập? Chính những người này đi vào châu Âu và lai với người Australoid từ châu Á sang, trở thành tổ tiên người da trắng Europians. Vì vậy, họ không thể biến thành tổ tiên người da vàng Trung Hoa!

Viết như thế, ông Cường cũng bỏ qua cả một thế kỷ khảo cổ học phát hiện con đường truyền bá văn minh từ Hòa Bình lên phương Bắc. Ông không thấy vô lý sao khi con người từ bắc xuống nam còn dòng văn minh chảy ngược lại!?

Không thể ngờ được rằng, một người sắp ẵm bằng tiến sĩ, dợm thò một chân vào “văn mếu tân thời” lại có thể viết thế này: “Cho dù có Bắc tiến thì đó cũng chỉ là những cuộc Bắc tiến của người da đen từ 30.000 năm trước. Sống tại xứ lạnh mấy chục ngàn năm, họ dần tiến hóa thành người da vàng (đại chủng Á)” (HVT nhấn mạnh).

Trời ạ, chỉ vì sống ở xứ lạnh mấy chục ngàn năm mà người da đen biến được thành chủng da vàng sao?!

Với bài làm như vậy, cậu học trò trung học chắc chắn ăn “trứng” (zero)! Sai gì thì sai, không thể sai trong kiến thức nền tảng sinh học! Không phải quên mà rõ ràng ông Cường chưa hề học: “Genotive là những tính trạng do cha mẹ tổ tiên truyền lại mà cho con cháu không thể nhận được qua tập nhiễm.” Chính do sự bền vững kỳ diệu của gene mà ngày nay, từ giọt máu chúng ta, khoa học truy tìm được tổ tiên 5 triệu năm trước hay xa hơn nữa của loài người. Cũng không thể ngờ rằng lỗi kiến thức sơ đẳng như vậy lại xuất hiện trên tạp chí hàng đầu của giới trí thức Việt!

Ông Cường cũng tỏ ra bất chấp những kiến thức giáo khoa về nhân chủng học. “Các đại chủng như ta hiểu ngày nay” không phải “chỉ xuất hiện hoàn chỉnh khoảng 10.000 năm trước” như ông nói mà đã hình thành ngay từ châu Phi. Ba đại chủng Australoid, Mongoloid và Europid sinh ra từ 3 Eve của 1 chàng Adam. Theo nguyên lý di truyền học, ông tổ sinh học có đa dạng di truyền cao nhất. Trong hoàn cảnh cụ thể của vùng địa lý, các con cháu không bị hòa huyết với gene lạ, dần dần tạo thành một dòng thuần, được gọi là đại chủng. “Đại” lúc đầu không có nghĩa là to mà là khởi thủy. Sau này, với thời gian và địa bàn mở rộng, con cháu bị lai tạp thì chỉ có sự phân ly thành những đơn vị phân loại nhỏ hơn (nhóm loại hình, chủng, sắc tộc), với F-value (giá trị di truyền) thấp dần chứ không bao giờ trở lại mức thuần khiết của dòng ban đầu!

Ông cũng không biết, người từ Việt Nam lên phương bắc 30.000 năm trước không còn là người châu Phi da đen nữa mà là những người Việt cổ Sơn Vi thuộc chủng Indonesian, Melanesian… là chủ nhân văn hóa Hòa Bình, tổ tiên trực tiếp của toàn thể dân Việt ngày nay!
Để có niềm tự hào chân chính cần phải hiểu biết. Bỏ mồ cha khóc đống mối là vậy!

Trên bàn tôi có cuốn "Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt" của giáo sư Cao Xuân Hạo. Nhà ngữ học bậc thầy đã nhắc nhở ông Cưòng về việc giảng sai câu "Tri chi vi tri chi..." của Khổng Tử. Thiết tưởng với bài học đắt giá này, ông Cường sẽ cẩn trọng hơn khi viết lách. Thật không ngờ...
Điểm lại những bài viết của ông Cường liên quan tới Bản đồ gene người, ta thấy, ông đọc chưa kỹ dẫn đến hiểu lầm S. Wells, kiến thức sinh học chưa sạch nước cản, hiểu biết về khảo cổ, nhân chủng, lịch sử… thì chắp vá, vụn mảnh. Trước vấn đề rất nghiêm túc, ngoài tầm hiểu biết của mình, lẽ ra ông nên chịu khó nghe để học may ra có lúc… “thị tri dã”.

4. Kết luận

Thế kỷ XX treo trước nhân loại 3 câu hỏi lớn: 1. Quê hương loài người ở đâu? 2. Sự di cư như thế nào? Và 3. Sự hình thành dân cư các châu lục?

Công nghệ gene thần kỳ trả lời 2 câu hỏi đầu một cách ngoạn mục. Nhưng câu thứ 3, di truyền học bó tay. Đó là lẽ đương nhiên vì vấn đề thuộc khoa học nhân văn. Muốn trả lới, cần có tri thức liên ngành không chỉ rộng mà còn rất sâu.

Trong hai cuốn sách Tìm lại cội  nguồn văn hóa Việt (Văn học, 2007), Hành trình tìm lại cội nguồn (Văn học, 2008), tôi đã cố gắng lý giải vấn đề về cội nguồn và văn hóa của tộc Việt. Thiết nghĩ, đấy là sự nối kết và giải mã thỏa đáng khối lượng lớn những tài liệu đa ngành hiện có.

Điều thú vị là, càng đi sâu vào vấn đề, tôi càng nhận ra thiên tài của Oppenheimer. Từ những cứ liệu khoa học còn hạn chế, ông đã giải mã thành công nhiều truyền thuyết, huyền thoại để đề xuất những giả thuyết tuyệt vời. Ông làm tôi nhớ đến Kim Định. Gần 40 năm trước, cũng bằng giải mã huyền thoại, vị triết gia này đưa ra giả thuyết về Việt Nho và đạo Việt An vi. Nhiều học giả quan phương mạt sát đến vùi dập những đề qưyết động trời ấy. Nhưng thời gian cho thấy Kim Định là một thiên tài. Học thuyết của ông không chỉ đúng đắn mà còn vô cùng quan trọng với vận mệnh dân tộc. Nếu chúng ta tỉnh táo hơn, biết nghe, biết suy nghĩ theo hướng của ông thì chắc rằng dân tộc đã khác hôm nay. Tiếc thay!

Sài Gòn, Đông Mậu Tý.


2.  Dẫn theo  Zhou JixiThe Rise of Agricultural Civilization in China.SINO-PLATONIC PAPERS Number 175 December, 2006
3. Hà Văn Thùy. Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.
5. Bowen, Hui li: Genetic evidence suports demic diffusion of Han culture. Nature/vol 431/16 September 2004.

Thứ Năm, 9 tháng 8, 2012

Tôn giáo Indonesia

Tôn giáo Indonesia

Hồi giáo là tôn giáo chi phối bởi đến nay tại Indonesia, với số tín đồ tôn giáo lớn nhất: khoảng 143.000.000 người hay 86,9 phần trăm dân số năm 1985, mà khi điều chỉnh dự toán 1992 giữa đại diện 160.000.000 và 170.000.000 tín đồ. Tỷ lệ này cao của người Hồi giáo Indonesia đã Hồi giáo lớn nhất nước trên thế giới trong những năm 1990. Trong nước, hầu hết các tỉnh và các đảo có dân cư đa số tín đồ Hồi giáo (từ chỉ trên 50 phần trăm trong Kalimantan Barat và tỉnh Maluku nhiều như 97,8 phần trăm trong khu vực đặc biệt của Aceh).
Theo thực tế chính thống, Hồi giáo là một tôn giáo độc thần đúng trong đó Thiên Chúa (Allah hay Tuhan) là một con số phổ biến, nếu hơi xa,. Tiên tri Muhammad không phong thần, nhưng được coi như một con người đã được chọn bởi Thiên Chúa để lây lan từ người khác thông qua các Quran, cuốn sách thiêng liêng nhất của Hồi giáo, những lời mạc khải của Thiên Chúa. Hồi giáo là một tôn giáo dựa trên nguyên tắc đạo đức cao, và là một phần quan trọng của việc người Hồi giáo một là cam kết cho những nguyên tắc này. Luật Hồi giáo (Sharia, trong syariah, Indonesia) được dựa trên Kinh Qur'an, các Sunna, Hồi giáo truyền thống, bao gồm các hadith (hadis ở Indonesia), các hành động và lời nói của Muhammad; ijma, sự đồng thuận của một nhóm Hồi giáo địa phương của jurisprudents và, đôi khi, cả cộng đồng Hồi giáo; và qiyas hoặc lý luận thông qua tương tự. Hồi giáo là Phổ, và, về mặt lý thuyết, không có tiêu chuẩn quốc gia, chủng tộc, hay dân tộc để chuyển đổi. Các ngành chính của Hồi giáo là những tôn trọng của người Hồi giáo Sunni và Shia.
Để một mức độ đáng kể, các biến thể nổi bật trong việc thực hành và diễn giải của Hồi giáo - trong một hình thức ít hơn nhiều khắc khổ hơn so với thực hành tại Trung Đông - trong các bộ phận khác nhau của Indonesia phản ánh lịch sử phức tạp của nó. Giới thiệu từng phần của thương nhân khác nhau và thần bí lang thang từ Ấn Độ, Hồi giáo đầu tiên đã đạt được một chỗ đứng giữa thế kỷ thứ mười hai và mười lăm ở các vùng ven biển của Sumatra, miền bắc Java và Kalimantan. Hồi giáo có lẽ đã đến các khu vực này theo hình thức truyền thống Sufi huyền bí.Đạo Xufi dễ dàng được chấp nhận của địa phương và trở thành tổng hợp với hải quan địa phương. Sự ra đời của đạo Hồi để các đảo không phải luôn luôn hòa bình, tuy nhiên. Như thị trấn cảng Islamized làm suy yếu sức mạnh suy tàn của người Java Đông vương quốc Majapahit HinduBuddhist trong thế kỷ thứ mười sáu, tầng lớp người Java chạy sang Bali, nơi hơn 2,5 triệu người lưu giữ phiên bản của riêng mình của Ấn Độ giáo sống Không giống như các vùng ven biển Sumatra, nơi mà Hồi giáo đã được thông qua bởi giới tinh hoa và quần chúng tương tự, một phần như một cách để truy cập các quyền lực kinh tế và chính trị của các vương quốc Ấn giáo-Phật giáo, trong nội thất của Java giới sĩ phu dần dần chấp nhận Hồi giáo, và sau đó chỉ như là một bối cảnh pháp lý và tôn giáo chính thức cho văn hóa tinh thần người Java.
Những quá trình lịch sử đã dẫn đến những căng thẳng lâu dài giữa người Hồi giáo chính thống và nhiều hơn nữa syncretistic, tôn giáo địa phương dựa - căng thẳng mà vẫn nhìn thấy trong những năm 1990. Trên Java, ví dụ, sự căng thẳng này đã được thể hiện trong sự tương phản giữa santri và abangan, một bản địa kết hợp giữa Phật giáo và Ấn giáo-tín ngưỡng bản địa với thông lệ Hồi giáo đôi khi cũng được gọi là Javanism, kejawen, Agama Jawa, hoặc kebatinan. Các điều khoản và tính chất chính xác của phe đối lập này vẫn còn trong tranh chấp trong đầu những năm 1990, nhưng trên Java santri không chỉ gọi một người đã có ý thức và độc quyền Hồi giáo, người santri cũng mô tả những người đã bỏ mình khỏi thế giới trần tục tập trung cầu nguyện hoạt động trong các trường học Hồi giáo gọi là pesantren - theo nghĩa đen là nơi santrinày.
Ngược lại với triết học theo định hướng Mecca của hầu hết các santri, đã có hiện nay củakebatinan, mà là một hỗn hợp của vạn vật hữu linh, Hindu, Phật giáo, và Hồi giáo - - Sufi đặc biệt là niềm tin. Điều này lỏng lẻo tổ chức hiện tại của tư tưởng và thực hành, đã được hợp pháp hoá trong hiến pháp năm 1945 và, vào năm 1973, khi nó được công nhận là một trong Agama, Tổng thống Suharto tính mình là một trong những tín đồ của nó. Kebatinan thường được mô tả như là thần bí, và một số giống đã được quan tâm kiểm soát tinh thần tự. Mặc dù có nhiều loại lưu hành trong năm 1992, kebatinan thường hàm ý tôn thờ phiếm thần bởi vì nó khuyến khích sự hy sinh và sùng kính thần linh địa phương và tổ tiên. Những linh hồn được cho là sống các đối tượng tự nhiên, con người, vật, và các trang web nghiêm trọng của Wali quan trọng (Hồi giáo thánh). Bệnh tật và bất hạnh khác là bắt nguồn từ tinh thần như vậy, và nếu hy sinh hoặc những cuộc hành hương không xoa dịu các vị thần giận dữ, những lời khuyên của một dukun hoặc là tìm cách chữa lành. Kebatinan, trong khi nó bao hàm một biến đi từ phổ quát của dân quân Hồi giáo chính thống, di chuyển về phía một phổ quát hơn vào bên trong. Bằng cách này, di chuyển về phía kebatinan loại bỏ sự phân biệt giữa chung và các địa phương, các xã và các cá nhân.
Một căng thẳng quan trọng là người Hồi giáo Indonesia chia cuộc xung đột giữa truyền thống thuyết và hiện đại. Bản chất của những khác biệt này là phức tạp, khó hiểu, và một vấn đề của cuộc tranh luận đáng kể trong những năm 1990, nhưng thường bị từ chối sự quan tâm truyền thống của hiện đại trong việc hấp thụ các nguyên tắc giáo dục và tổ chức từ phương Tây. Cụ thể, truyền thống đã nghi ngờ hỗ trợ hiện đại "của madrasa đô thị, một trường cải cách bao gồm việc giảng dạy các chủ đề thế tục. Các 'hiện đại Mục tiêu của việc đạo Hồi trong pesantren và mang nó đến những người đã phản đối bởi các truyền thống vì nó đe dọa làm suy yếu quyền của kyai (các nhà lãnh đạo tôn giáo). Cũng tìm cách truyền thống, nhưng không thành công, để thêm một điều khoản cho các nguyên lý đầu tiên của hệ tư tưởng nhà nước Pancasila yêu cầu rằng, có hiệu lực, tất cả người Hồi giáo Sharia tuân thủ các. Mặt khác, hiện đại cáo buộc truyền thống của unrealism thoát ly đối mặt với thay đổi, một số thậm chí còn gợi ý rằng nuôi dưỡng lòng trung thành santri lớn hơn đối với các Ummah (cộng đoàn tín hữu) của Hồi giáo hơn là các nhà nước thế tục của Indonesia.
Mặc dù có những khác biệt này, các truyền thống Nahdlatul Ulama (nghĩa đen, sự phục hồi của các học giả tôn giáo, còn được gọi là các học giả Hồi giáo League '), Hội đồng tư vấn các tiến bộ của người Hồi giáo Indonesia (Masyumi), và hai đảng khác bị buộc phải sắp xếp hợp lý vào một chính trị Hồi giáo bên vào năm 1973 - Phát triển Thống nhất Đảng (PPP). cleavages như vậy có thể đã làm suy yếu Hồi giáo như là một thực thể chính trị, tổ chức, như đã chứng minh bằng việc rút Nahdlatul Ulama của đối thủ cạnh tranh chính trị tích cực, nhưng là một lực lượng Hồi giáo tôn giáo phổ biến cho thấy dấu hiệu của sức khỏe tốt và khả năng để khung cuộc tranh luận quốc gia trong thập niên 1990.

Thiên Chúa giáo ở Indonesia

Mặc dù Cơ Đốc giáo - Công giáo La Mã và Tin lành - đã được các tôn giáo phát triển nhanh nhất ở Indonesia trong những năm 1980, con số của nó là nhỏ so với Hồi giáo (9 phần trăm dân số so với 86,9 phần trăm người Hồi giáo vào năm 1985). Kitô giáo đã có một lịch sử lâu dài trong các hòn đảo, với Bồ Đào Nha dòng Tên và Ða Minh hoạt động trong Malukus, miền nam Sulawesi, và Timor trong thế kỷ thứ mười sáu. Khi người Hà Lan đánh bại Bồ Đào Nha năm 1605, tuy nhiên, giáo sĩ Công Giáo đã bị trục xuất và các Giáo hội Cải cách Hà Lan phái Calvin hầu như chỉ Christian ảnh hưởng trong khu vực cho 300 năm. Trong khi Công ty Đông Ấn Kỳ (VOC) đã được chủ yếu là thế tục và không phải doanh nghiệp một tôn giáo, và bởi vì Calvin là một giống chặt chẽ, khắc khổ, trí tuệ và kiên quyết của Kitô giáo mà đòi hỏi một sự hiểu biết thấu đáo về những gì, cho Indonesia, đã được thánh nước ngoài, Thiên chúa giáo nâng cao ít ở Indonesia cho đến thế kỷ XIX. Chỉ có một vài cộng đồng nhỏ phải chịu đựng trong Java, Maluku, Bắc Sulawesi, và Nusa Tenggara (chủ yếu là Roti và Timor). Sau khi giải thể các VOC năm 1799, và nhận con nuôi của một cái nhìn toàn diện hơn nhiệm vụ của họ tại quần đảo này, người Hà Lan được phép cải đạo trong lãnh thổ. Điều này tự do truyền đạo được đưa vào sử dụng do khoan dung hơn Đức Giáo phái Luther, người đã bắt đầu làm việc trong các Batak của Sumatra vào năm 1861, và đến Rhenish Hà Lan Mission ở miền Trung Kalimantan và Trung Sulawesi. Ngoài ra, dòng Tên thành lập cơ quan đại diện thành công, trường học, và các bệnh viện trên khắp các đảo Flores, Timor, và Alor.
Thế kỷ XX đã chứng kiến ​​sự đổ bộ của nhiều nhóm Tin Lành truyền giáo mới, cũng như sự tăng trưởng liên tục của đạo Công giáo và của khu vực và cải cách lớn các nhà thờ Lutheran. Sau cuộc đảo chính năm 1965, tất cả những người đã được dán nhãn nonreligious người vô thần và do đó đã dễ bị cáo buộc chứa chấp sự đồng cảm của cộng sản. Vào thời điểm đó, nhà thờ Thiên chúa giáo của tất cả các giống có kinh nghiệm phát triển bùng nổ trong các thành viên, đặc biệt trong những người cảm thấy không thoải mái với những khát vọng chính trị của các bên Hồi giáo.
Trong những năm 1990, đa số các Kitô hữu ở Indonesia đã được người Tin lành của một trong những liên kết này hay cách khác, với nồng độ đặc biệt lớn được tìm thấy ở Sumatra Utara, Irian Jaya, Maluku, Kalimantan Tengah, Sulawesi Tengah, và Sulawesi Utara. Giáo hội đã tăng ít nhanh chóng trong những năm 1980, một phần vì sự phụ thuộc nặng nề của giáo hội về nhân châu Âu. Những người châu Âu ngày càng có kinh nghiệm hạn chế về hoạt động truyền giáo của họ áp đặt bởi Cục Hồi giáo thống trị của Tôn giáo. nồng độ lớn của Công giáo La Mã nằm ở Kalimantan Barat, Irian Jaya, Nusa Tenggara Timur và Timor Timur các địa phương.

Ấn Độ giáo ở Indonesia

Ấn Độ giáo là một hỗn hợp của các truyền thống liên quan và các giáo phái mà tìm cách giải thích về vũ trụ học chủ yếu deistic. tôn giáo có tín ngưỡng thần linh vô số nhưng không có độc quyền. Một trong những mối quan tâm chính của Ấn Độ giáo, đạo đức là khái niệm của sự tinh khiết nghi lễ. Một phân biệt tính năng quan trọng, giúp duy trì sự thanh tịnh lễ nghi, là bộ phận của xã hội vào các nhóm nghề nghiệp truyền thống, hoặc Varna (nghĩa đen, màu sắc) của Ấn Độ giáo: Brahman (linh mục, Bà la môn ở Indonesia), Kshatriya (vua-chiến binh, satriya tại Indonesia), Vaishya (thương nhân-nông dân, waisya ở Indonesia), và Shudra (dân thường, công chức, Sudra ở Indonesia).
Giống như Hồi giáo và Phật giáo, Ấn Độ giáo đã được rất nhiều thay đổi khi thích nghi với xã hội Indonesia. Hệ thống đẳng cấp, mặc dù hiện tại hình thức, chưa bao giờ áp dụng cứng nhắc. The Hindu sử thi tôn giáo, các Mahabharata (Great Trận Con cháu của Bharata) và Ramayana (The Travels của Rama), đã trở thành truyền thống lâu dài giữa các tín hữu của Indonesia, thể hiện trong con rối bóng (wayang) và biểu diễn khiêu vũ.
Ấn Độ giáo ở Indonesia là chủ yếu kết hợp với Bali. Hindu tín hữu trong những năm 1990 không có nhiều ở bên ngoài của Bali, nơi họ đã chiếm hơn 93 phần trăm dân số. Những người khác đã được rải rác khắp 26 khác đơn vị cấp tỉnh. Trong số các cộng đồng này không Bali đã được dán nhãn là nhóm Ấn giáo của chính phủ - ví dụ, các tín đồ của các tôn giáo ở Kalimantan Tengah Kaharingan, nơi mà số liệu thống kê của chính phủ tính người Ấn giáo là 15,8 phần trăm dân số.Trên toàn quốc, người Ấn giáo chỉ chiếm khoảng 2 phần trăm của populaiton đầu những năm 1990.
Thật khó để mô tả phiên bản của Bali của Ấn Độ giáo trong các điều khoản giống như giáo lý Hồi giáo và Kitô giáo, vì hình thức này độc đáo của biểu thức tôn giáo sâu sắc đan xen với nghệ thuật và lễ nghi, và ít bận tâm chặt chẽ với các thánh thư, pháp luật, và niềm tin. Bali thiếu sự nhấn mạnh Ấn Độ giáo Hindu truyền thống về chu kỳ của tái sinh và luân hồi, mà thay vào đó là có liên quan với vô số các loại rượu mạnh của địa phương và tổ tiên. Như với kebatinan, những vị thần được cho là có khả năng gây hại.
Bali nhấn mạnh nơi tuyệt vời về hành vi kịch tính và thẩm mỹ đáp ứng của sự an ủi nghi lễ của các thần linh tại các đền thờ nằm ​​rải rác trong làng và trong các vùng nông thôn. Mỗi ngôi đền có một thành viên ít nhiều cố định; Bali từng thuộc về một ngôi đền của đức hạnh của cư trú, nguồn gốc, hoặc tiết lộ một số bí ẩn của liên kết. Một số ngôi đền được liên kết với các hợp chất ngôi nhà của gia đình, những người khác có liên quan đến lĩnh vực lúa gạo, và vẫn còn những người khác với các trang web chính địa lý.
Nghi thức quốc gia tự chủ (hoặc thiếu đó) là một tính năng đáng chú ý của biểu thức tôn giáo trong nhân dân, nổi tiếng với các hành vi duyên dáng và đoan trang của họ. Một khoá lễ tại một đền thờ làng, ví dụ, các tính năng biểu diễn đặc biệt của một bộ phim truyền hình-dance (một trận chiến giữa các nhân vật thần thoại Rangda phù thủy và Barong con rồng), trong đó biểu diễn rơi vào một trance và cố gắng đâm mình với sắc nét dao.
Nghi lễ của vòng đời cũng được dịp quan trọng để biểu hiện tôn giáo và nghệ thuật trưng bày.Nghi lễ ở tuổi dậy thì, hôn nhân, và, đáng chú ý nhất, hỏa táng khi chết tạo cơ hội cho Bali để truyền đạt ý tưởng của họ về trạng thái, cộng đồng, và thế giới bên kia. (Các ngành công nghiệp du lịch đã không chỉ hỗ trợ các nghi lễ hỏa táng Bali ngoạn mục giữa các phương tiện khiêm tốn, nhưng cũng đã tạo ra một nhu cầu lớn hơn cho họ.)
tôn giáo của Bali là phân cấp tổ chức, với phân khúc nhỏ của tầng lớp quý tộc - những Brahman, hoặc linh mục, lớp - là uy tín nhất. Một linh mục Brahman không liên kết với bất kỳ ngôi đền nhưng hoạt động như một lãnh đạo tinh thần và cố vấn cho gia đình, cá nhân ở các làng khác nhau rải rác trên đảo. Các linh mục được tư vấn khi cần nước thánh lễ được tiến hành. Trong các trường hợp khác, người chữa bệnh dân gian hoặc curers có thể được thuê.

Phật giáo ở Indonesia

Indonesia Phật giáo trong những năm 1990 là sản phẩm không ổn định của các phòng phức tạp giữa hệ tư tưởng tôn giáo, xác định dân tộc của Trung Quốc, và chính sách chính trị. Theo truyền thống, Trung Quốc Đạo giáo (hay Đạo giáo), Nho giáo, (Agama Konghucu tại Indonesia) và Phật giáo, cũng như nhiều nativist Perbuddhi Phật giáo, tất cả đều có tín đồ trong cộng đồng dân tộc Trung Quốc. Sau cuộc đảo chính năm 1965 đã cố gắng, bất kỳ dấu hiệu của sự sai lệch từ những giáo lý độc thần của Pancasila được coi là phản quốc, và người sáng lập của Perbuddhi, Bhikku Ashin Jinarakkhita, đề xuất rằng có một đơn vị thần tối cao, Sang Hyang Adi Phật. Ông đã tìm cách xác nhận cho phiên bản duy nhất của Phật giáo Indonesia trong các văn bản cổ của người Java, và thậm chí cả hình dạng của những ngôi đền Phật giáo ở Borobudur ở Jawa Tengah tỉnh.
Trong những năm sau cuộc đảo chính bại năm 1965, khi tất cả các công dân đã được yêu cầu đăng ký với một giáo phái tôn giáo cụ thể hoặc bị nghi là sự đồng cảm của cộng sản, số Phật tử tăng lên, một số chín mươi tu viện mới được xây dựng. Năm 1987 đã có bảy trường học của Phật giáo liên kết với Đức Phật Umat Perwalian Indonesia (Walubi): Nguyên Thủy, Phật thừa, Đại thừa, Tridharma, Kasogatan, Di Lặc, và Nhật Liên. Theo một ước tính năm 1987, có khoảng 2,5 triệu người theo Phật giáo, với 1 triệu trong số này liên kết với Phật giáo Nguyên Thủy và khoảng 0.500.000 thuộc giáo phái Phật thừa được thành lập bởi Jinarakkhita. ước tính khác được đặt Phật tử ở quanh chỉ có 1 phần trăm dân số, hoặc ít hơn 2 triệu USD. Phật giáo đã đạt số lượng vì tình trạng không chắc chắn của Nho giáo. Nho giáo được chính thức chấp nhận bởi chính phủ, nhưng kể từ khi nó được coi như là một hệ thống các quan hệ đạo đức hơn là một tôn giáo cho mỗi gia nhập, nó đã không được đại diện trong Ban Tôn giáo.
Mặc dù các giáo phái khác nhau tiếp cận giáo lý Phật giáo theo những cách khác nhau, một tính năng trung tâm của tôn giáo được công nhận của Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Ðạo. Tứ Diệu Đế liên quan đến việc công nhận rằng sự tồn tại tất cả là đầy đủ của đau khổ; về nguồn gốc của khổ đau là ái dục cho các đối tượng thế gian, đau khổ chấm dứt khi tham ái chấm dứt, và Bát Chánh Đạo dẫn đến giác ngộ. Bát Chánh Đạo gọi quan điểm hoàn hảo, giải quyết, lời nói, hành động, sinh kế, nỗ lực, chánh niệm, và tập trung.
Phật giáo ban đầu là một tín ngưỡng trí tuệ, và chỉ có chút liên quan với các siêu nhiên. Tuy nhiên, chính trị cần thiết, và mong muốn tình cảm cá nhân được bảo vệ từ nỗi sợ hãi của thế giới bởi một vị thần mạnh mẽ, đã dẫn đến thay đổi. Trong nhiều cách, Phật giáo là cá nhân cao, với mỗi người đàn ông và người phụ nữ chịu trách nhiệm cho chính mình tự. Bất cứ ai cũng có thể hành thiền một mình, ngôi đền không cần, và không có giáo sĩ là cần thiết để hoạt động như một trung gian. Cộng đồng cung cấp các chùa và đền thờ để truyền cảm hứng cho các khung hình thích hợp của tâm để hỗ trợ các tín đồ trong sự tận tâm của họ và nhận thức bản thân.

Thứ Bảy, 28 tháng 7, 2012

Ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ đến Quảng Nam – Đà Nẵng



Ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ đến Quảng Nam – Đà Nẵng
Th.S Từ Ánh Nguyệt
Khoa Lý luận chính trị

Hiện nay trên nhiều tỉnh thành của nước ta có những di tích ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ. Đà Nẵng, Quảng Nam là nơi có nhiều ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ như ảnh hưởng về phật giáo, tuy nhiên di tích có ảnh hưởng rõ nhất là tháp Chăm, điển hình là khu thánh địa Mỹ Sơn.
           
 Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 70km về phía tây nam, cách Trà Kiệu khoảng 10km về phía tây trong một thung lũng kín đáo. Mỹ Sơn là thánh địa Ấn Độ giáo của vương quốc Chămpa. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga hoặc hình tượng của thần Siva - Ðấng bảo hộ của các dòng vua Chămpa. Những dòng chữ ghi trên tấm bia sớm nhất ở Mỹ Sơn, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 4 cho biết vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền để dâng cúng vua thần Siva- Bhadravarman. Hơn hai thế kỷ sau đó, ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ đã bị thiêu huỷ trong một trận hỏa hoạn lớn. Vào đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi đền bằng những vật liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay. Các triều vua sau đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để dâng lên các vị thần của họ. Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Chămpa. Vị thần được tôn thờ ở Mỹ Sơn là Bhadravarman, là vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ thần - vua và tổ tiên hoàng tộc. Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là M.C Paris. Vào những năm đầu thế kỷ 20 này, 2 nhà nghiên cứu của Viễn thông Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm. Cho đến những năm 1903-1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố.

Tiền thân của quần thể kiến trúc Mỹ Sơn cổ kính này, theo văn bia để lại là một ngôi đền làm bằng gỗ để thờ thần Siva Bhadravarman. Nhưng đến khoảng cuối thế kỷ 6, một cơn hoả hoạn đã thiêu cháy ngôi đền gỗ. Bức màn lịch sử đã được các nhà khoa học vén dần lên thông qua những bia ký và lịch sử nhiều triều đại xưa cho ta thấy Mỹ Sơn là khu thánh địa quan trọng nhất của dân tộc Chăm suốt từ cuối thế kỷ 4 đến thế kỷ 15.

Bằng vật liệu gạch nung và đá sa thạch, trong nhiều thế kỷ người Chăm đã dựng lên một quần thể kiến trúc đền tháp độc đáo, liên hoàn: Ðền chính thờ Linga-Yoni biểu tượng của năng lực sáng tạo. Bên cạnh tháp chính (Kalan) là những tháp thờ nhiều vị thần khác hoặc thờ những vị vua đã mất. Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc, kiến trúc còn lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách giai đoạn lịch sử mỹ thuật dân tộc Chăm, những kiệt tác đánh dấu một thời huy hoàng của văn hoá kiến trúc Chămpa cũng như của Đông Nam Á. Mỗi thời kỳ lịch sử, kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như mỗi đền tháp thờ những vị thần, những triều vua khác nhau tạo nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, nhưng nhìn chung tháp Chàm đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3 phần: Ðế tháp biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc. Thân tháp tượng hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc. Phần trên cùng là hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim muông, voi, sư tử... động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con người.

Về mặt kiến trúc thì các đền tháp, lăng mộ ở Mỹ Sơn là nơi hội tụ của các kiểu dáng khác nhau, từ những kiểu cổ đại hay kiểu Mỹ Sơn E1 (thế kỷ 8, Mỹ Sơn E1 và F1), kiểu Hòa Lai (cuối thế kỷ 8 - đầu thế kỷ 9, Mỹ Sơn A2, C7 và F3), kiểu Đồng Dương (cuối thế kỷ 9 - đầu thế kỷ 10, Mỹ Sơn A10, A11-13, B4, B12), kiểu Mỹ Sơn A1 (thế kỷ 10, Mỹ Sơn B5, B6, B7, B9, C1, C2, C5, D1, D2, D4), kiểu chuyển tiếp Mỹ Sơn A1-Bình Định (đầu thế kỷ 11 - giữa thế kỷ 12, Mỹ Sơn E4, F2, nhóm K) và kiểu Bình Định (cuối thế kỷ 11 - đầu thế kỷ 14, Mỹ Sơn B1 và các nhóm G, H).

Nghệ thuật và kiến trúc qua bố cục đền tháp mang ảnh hưởng lớn của phong cách Ấn Độ. Khu thánh địa có một tháp chính (kalan) và nhiều tháp phụ nhỏ bao bọc xung quanh. Các tháp đều có hình chóp, biểu tượng của đỉnh Meru thần thánh, nơi cư ngụ của các vị thần Hindu. Cổng tháp thường quay về phía đông để tiếp nhận ánh sáng Mặt Trời. Nhiều tháp có kiến trúc rất đẹp với hình những vị thần được trang trí với nhiều loại hoa văn. Phần lớn những kiến trúc này hiện nay đã bị suy tàn, nhưng đây đó vẫn còn sót lại những mảng điêu khắc mang dấu ấn hoàng kim của các triều đại Chăm pa huyền thoại. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ linga hoặc hình tượng của thần Shiva - thần bảo hộ của các triều vua Chăm pa. Những người cầu nguyện thời trước thường đi vòng quanh tháp theo chiều kim đồng hồ trên một lối nhỏ.

Trong nhiều thế kỷ, thánh địa này được bổ sung thêm các ngọn tháp lớn nhỏ và đã trở thành khu di tích chính của văn hóa Chămpa tại Việt Nam. Ngoài chức năng hành lễ, giúp các vương triều tiếp cận với các thánh thần, Mỹ Sơn còn là trung tâm văn hóa và tín ngưỡng của các triều đại Chămpa và là nơi chôn cất các vị vua, thầy tu nhiều quyền lực. Những di vật đầu tiên được tìm thấy ghi dấu thời đại vua Bhadravarman I (Phạm Hồ Đạt) (trị vì từ năm 381 đến 413), vị vua đã xây dựng một thánh đường để thờ cúng linga và Shiva. Mỹ Sơn chịu ảnh hưởng rất lớn của Ấn Độ cả về kiến trúc - thể hiện ở các đền tháp đang chìm đắm trong huy hoàng quá khứ, và về văn hóa - thể hiện ở các dòng bia ký bằng chữ Phạn cổ trên các tấm bia. Dựa trên các tấm bia văn tự khác, người ta biết nơi đây đã từng có một đền thờ đầu tiên được làm bằng gỗ vào thế kỷ 4. Hơn 2 thế kỷ sau đó, ngôi đền bị thiêu hủy trong một trận hỏa hoạn lớn. Vào đầu thế kỷ 7, vua Sambhuvarman (Phạm Phạn Chi) (trị vì từ năm 577 đến năm 629) đã dùng gạch để xây dựng lại ngôi đền còn tồn tại đến ngày nay (có lẽ sau khi dời đô từ Khu Lật về Trà Kiệu). Các triều vua sau đó tiếp tục tu sửa lại các đền tháp cũ và xây dựng các đền tháp mới để thờ các vị thần. Gạch là vật liệu tốt để lưu giữ ký ức của một dân tộc kỳ bí và kỹ thuật xây dựng tháp của người Chàm cho tới nay vẫn còn là một điều bí ẩn. Người ta vẫn chưa tìm ra lời giải đáp thích hợp về chất liệu gắn kết, phương thức nung gạch và xây dựng. Những ngọn tháp và lăng mộ có niên đại từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 14, nhưng các kết quả khai quật cho thấy các vua Chăm đã được chôn cất ở đây từ thế kỷ 4. Thánh địa Mỹ Sơn có thể là trung tâm tôn giáo và văn hóa của nhà nước Chăm pa khi thủ đô của quốc gia này là Trà Kiệu hay Đồng Dương.

Trong nhiều công trình kiến trúc còn lại khi phát hiện (1898) có tháp cao tới 24m, trong khu vực Tháp Chùa mà các sách khảo cổ, nghiên cứu về Mỹ Sơn có ký hiệu là tháp cổ Chămpa, có 2 cửa ra vào phía Ðông và phía Tây. Thân tháp cao, thanh tú với một hệ thống cột ốp. Xung quanh có 6 tháp phụ, toàn bộ ngôi tháp 2 tầng toả ra như cánh sen. Tầng trên, chóp đá sa thạch được chạm hình voi, sư tử, tầng dưới, mặt tường là hình những người cưỡi voi, hình các thiên nữ thuỷ quái. Nhưng ngôi tháp giá trị này đã bị không lực Mỹ huỷ hoại trong chiến tranh, năm 1969.

Sau khi phát hiện ra khu tháp cổ Mỹ Sơn, nhiều hiện vật tiêu biểu trong đó đặc biệt là những tượng vũ nữ, các thần linh thờ phượng của dân tộc Chăm, những con vật thờ cũng như những cảnh sinh hoạt cộng đồng đã được đưa về thành phố Ðà Nẵng đặt tại bảo tàng kiến trúc Chàm. Tuy không phải là nhiều, nhưng những hiện vật này là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu, nó có giá trị văn hoá của một dân tộc, nhưng hơn thế nữa, nó là những chứng tích sống động, xác thực lịch sử của một trong những dân tộc trong cộng đồng Việt Nam giàu truyền thống văn hoá.

Mỹ Sơn đã được trùng tu bởi E.F.E.O (Ecole Francaise d’Extreme Orient) trong thời gian từ 1937 đến 1944, nhưng khu vực này đã bị bom Mỹ tàn phá nặng nề trong chiến tranh. Đến năm 1975 , trong số 32 di tích còn lại, chỉ có khoảng 20 đền , tháp còn giữ được dáng vẻ ban đầu. Từ năm 1981 đến 1991, Mỹ Sơn được bảo quản và tu sửa từng phần với sự giúp đỡ về chuyên môn của công ty P.K.Z (Ba Lan). Phần lớn các tác phẩm điêu khắc ở Mỹ Sơn đã được người Pháp thu gom về Đà Nẵng vào những năm đầu thế kỷ 20 và được trưng bày tại bảo tảng Chàm. Khu di tích Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới tháng 12 năm 1999.
Trước đây trong quá trình học tập, tôi đã được tiếp cận đến văn minh Ấn Độ trên mộ số khía cạnh khác nhau. Nhưng qua chuyên đề ảnh hưởng văn minh Ấn Độ đối với các quốc gia Đông Nam Á trong lịch sử tôi đã có thêm những nhận thức mới về văn minh Ấn Độ như sau:
Thứ nhất, Nắm được một cách đầy đủ và có hệ thống về nền văn minh Ấn Độ như nguồn gốc, các yếu tố cấu thành, hiểu rõ hơn về văn hóa, văn minh Ấn Độ. Để từ đó chúng ta có thể khẳng định văn minh Ấn Độ là một nền văn minhh phát triển rực rỡ, những giá trị của văn minh Ấn Độ đã trở thành một bộ phận quan trọng của văn minh nhân loại.

Thứ hai,Thấy được sức lan tỏa mạnh mẽ của văn minh Ấn Độ đên khu vực Đông Nam Á. Do trình độ phát triển của mình về mọi phương diện người Ấn Độ đã sớm biết đến khu vực Đông Nam Á. Những thư tịch cổ phật giáo đã nhắc nhiều đến các địa danh người Ấn Độ thường qua lại như: Đảo Đầu Khấu, đảo Dừa, đảo Long Não. Từ thế kỷ I sau công nguyên trở đi ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ đến khu vực Đông Nam Á  tăng dần lên. Hầu hết các quốc gia trong khu vực này đều chịu ảnh hưởng, tuy nhiên tùy vào điều kiện của mỗi nước mà mức độ ảnh hưởng có sự khác nhau. Sở dĩ văn minh Ấn Độ có thể lan tỏa, xâm nhập vào khu vực Đông Nam Á một cách sâu sắc như vậy là do có sự gần gủi về địa lí, tưng đồng về văn hóa. Mặt khác do nhu cầu tim kiếm sản vật, tìm địa bàn buôn bán Ấn Độ đã có điều kiện thực hiện những chuyến vượt biển đến các vùng xa xôi. Ở Ấn Độ do trình độ văn hóa phát triển cao mà trước hết là phật giáo cho nên giáo lí của nó đã truyền bá rộng rãi đến nhiều nước.

Thứ ba, là một quốc gia năm trong khu vực Đông Nam Á, từ sớm chúng ta đã chịu ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ trên nhiều lĩnh vực. Điển hình vào thời cổ trung đại trên địa bàn Việt Nam đã xuất hiện 2 quốc gia Ấn Độ hóa là vương quốc Champa và vương quốc Phù Nam. Ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ đối với Việt Nam thời cổ trung đại sẽ tạo nền tảng cho mối quan hệ Việt- Ấn trong thời cận, hiện đại và mối quan hệ đó được vun đắp bởi J.Neru và Hồ Chí Minh. Hiện nay mối quan hệ tốt đẹp đó vẫn đang được phát huy. Những yếu tố của nền văn minh Ấn Độ đã góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa Việt Nam- một nền văn hóa tiên tiến nhưng đậm đà bản sắc dân tộc./.