Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

Việt Nam trong khung cảnh Đông Nam Á: Những giao điểm và sự so sánh

Việt Nam trong khung cảnh Đông Nam Á: Những giao điểm và sự so sánh

alt
GS.TS Vincent Houben  ( bên phải)  và GS.TS  Christoph Giebel đang trao đổi tại Hội thảo

Tôi muốn mở đầu bằng lời cảm ơn Ban Tổ chức Hội thảo đã dành cho tôi vinh dự được phát biểu tại đây. Từ năm 1990 tôi thường xuyên đến thăm Việt Nam. Trong vòng 18 năm qua ngành Việt Nam học đã đạt được những bước tiến lớn lao, hòa nhịp cùng những bước phát triển hết sức nhanh chóng của đất nước Việt Nam. Sự quan tâm học thuật của tôi đối với Việt Nam bắt nguồn từ nền tảng tri thức với tư cách là một nhà nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á. Khởi đầu từ ĐHTH Leiden với tư cách là người nghiên cứu về lịch sử Indonesia thời kỳ thuộc địa, trong vòng 10 năm qua, trong phạm vi khả năng của mình là một giáo sư về môn Đông Nam Á học tại các trường đại học ở Đức, trước tiên là ở Trường ĐHTH Passau và sau đó tại Trường ĐHTH Humboldt ở Berlin. Các nghiên cứu của tôi được mở rộng cả về không gian địa lý và thời gian lịch sử. Thiên hướng của tôi là tiếp cận Việt Nam theo cách nhìn so sánh, tức là luôn luôn quan sát toàn khu vực Đông Nam Á như một chỉnh thể, những vấn đề liên quan đến Việt Nam là những trải nghiệm lịch sử trong tương quan với những đất nước Đông Nam Á khác.

Góc nhìn Đông Nam Á cho phép nhìn nhận vấn đề sát hợp hơn, bởi lẽ nó mở ra cho ngành Việt Nam học một trường quan sát rộng lớn hơn và cho phép đặt ra những vấn đề nghiên cứu mới. Theo tôi, cho tới nay phần lớn những gì đã được tiến hành trong môn Việt Nam học về bản chất đều mang tính nội quan, tức là cố gắng tìm hiểu quá trình phát triển của Việt Nam trên các phương diện văn hóa, ngôn ngữ, xã hội, chính trị, và lịch sử với tính cách là kết quả của những nguồn nội lực và đặc tính dân tộc. Khuôn khổ nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn như thế đã tỏ ra rất thành công, bởi lẽ các nhà nghiên cứu Việt Nam đã công bố hàng loạt các kết quả nghiên cứu cụ thể và đã đặt nền móng cho việc mở rộng đáng kể hiểu biết về Việt Nam.

Chủ đề mà tôi muốn đề cập trong báo cáo này là cố gắng lật lại câu chuyện học thuật nói trên bằng cách đặt vấn đề, rằng một Việt Nam hiện hữu như ngày nay đã được tạo nên bởi những quan hệ quốc tế và những mối liên hệ khu vực như thế nào. Tôi muốn chỉ ra điều này bằng cách xem xét các giao điểm từ góc nhìn so sánh. Giao điểm ở đây được hiểu theo nghĩa chung nhất, tức là một điều kiện trong đó các yếu tố khác nhau cùng gặp gỡ theo một cách mà chúng tạo nên điểm khởi đầu cho một quá trình phát triển mới, quan trọng. Sự so sánh không chỉ đơn giản là đặt cạnh nhau để đối sánh nhằm tìm ra những tương đồng, dị biệt, mà xa hơn, nó phải hướng tới việc tìm ra những liên hệ có thể là kết quả của những sự tương tác, chuyển giao hay trì bế và kìm nén.

Trên cơ sở những biện minh cho việc xem xét Việt Nam trong khung cảnh Đông Nam Á, tôi cũng theo những xu hướng đã được các nhà khoa học nước ngoài đề xuất gần đây. Trong một cuốn sách công bố năm 2006 với tiêu đề Việt Nam - Những lịch sử không biên giới, Trần Tuyết Nhung và Anthony Reid đã tập hợp một số nghiên cứu trường hợp của các sử gia thuộc nhiều quốc tịch khác nhau nhằm tìm ra "những cách thức thông qua đó bản sắc Việt Nam trong hơn một nghìn năm đã tương tác với người Trung Quốc, người Chăm, Khmer, người Pháp và những nhóm người phi quốc gia khác của bán đảo [Đông Dương]" (1) . Mối quan tâm của cuốn sách này là "vượt qua các đường biên giới và khám phá những cái mơ hồ" (2.) Tương tự như vậy, một chuyên gia về Việt Nam ở Amsterdam, ông Oscar Salemink trong một bài nghiên cứu công bố gần đây vào năm 2008 quan tâm tới mối quan hệ giữa người Việt ở vùng hạ du với những nhóm tộc người thiểu số ở vùng thượng du, tiến thêm một bước nữa với việc tập trung  "những mối quan hệ liên kết chứ không phải chia rẽ các nhóm tộc người, nhóm cư dân và các khu vực địa lý" (3). Ông lập luận rằng chính những giao lưu về kinh tế, văn hóa, chính trị và tôn giáo đã sản sinh ra những bản sắc địa phương ở Việt Nam. Đồng thời, Salemink cũng đề xướng "cái nhìn từ trên núi", nhấn mạnh một thực tế là các cảng thị chỉ có thể phát triển nền thương mại biển thông qua mối liên hệ của nó với các khu vực thượng du. Do vậy, ông đã hoàn chỉnh thêm  "cái nhìn từ biển" do Li Tana, John Whitmore, Charles Wheeler và những người khác đề xướng.

Sự tập trung vào mối tương tác nội tại giữa các nhóm cư dân Việt Nam với nhau hay vào các mối liên hệ giữa bên ngoài và bên trong với tính cách là kết quả của các dạng thức giao thương đã trở thành một bộ phận trong hệ vấn đề nghiên cứu của nền sử học phi Tây phương nhằm vượt quá khuôn khổ của lịch sử dân tộc. Ở tất cả mọi nơi, các loại lịch sử dân tộc trên căn bản đều nhấn mạnh hai điểm: thứ nhất, đó là tính đặc trƣng của một dân tộc cụ thể nào đó đặt trong thế đối lập với các dân tộc láng giềng, và khi xem xét về Đông Nam Á thì trong thế đối lập với phương Tây; thứ hai, nó nhấn mạnh cái thống nhất thông qua tính đồng nhất chứ không phải là sự đa dạng và phong phú. Cách viết sử mới lại cố gắng bỏ qua lịch sử dân tộc bằng cách mô tả những mối tương tác xuyên quốc gia và toàn cầu, thậm chí diễn ra trong phạm vi địa phương của những vùng biên giới. Lập luận của tôi có khác biệt đôi chút, vì tôi cho rằng dường như hoàn toàn không thể bỏ qua lịch sử dân tộc. Có thể lập luận rằng, sự hình thành dân tộc trong khung cảnh Đông Nam Á là một hiện tượng gần đây. Tuy nhiên trong trường hợp Việt Nam, mặc dù có sự tồn tại cùng lúc của nhiều trung tâm nhưng sự hình thành từ sớm ý thức tiền dân tộc, tương tự như ở một số nhà nước - dân tộc ở châu Âu thời sơ kỳ cận đại là điều không thể phủ nhận hoàn toàn. Hơn nữa, mặc dù những ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa hiện nay, nhà nước - dân tộc không biến mất hoặc bị suy giảm ảnh hưởng trong việc tạo lập ra những trật tự xã hội riêng biệt. Cuối cùng, thông qua việc nhấn mạnh sự tồn tại của những mối tương tác và liên hệ từ thời kỳ tiền thuộc địa cho tới ngày nay và từ làng xã cho tới thị trường thế giới thì bản chất biến đổi của những mối liên hệ nội tại không thể tự giải thích bằng chính bản thân chúng. Thông qua việc dịch chuyển cách tiếp cận trong nghiên cứu từ trung tâm ra các khu vực ngoại biên cũng không thể ngay lập tức làm sáng tỏ được vấn đề các yếu tố địa phương, dân tộc và toàn cầu đã tương tác và vẫn đang tương tác với nhau nhƣ thế nào. Việc khám phá về bản chất của các tương tác bên trong với bên ngoài dường như là quan trọg hơn, bằng cách đặt ra vấn đề là những ảnh hưởng từ bên ngoài đã tác động đến Việt Nam như thế nào ngoài việc thúc đẩy xu hướng thống nhất hay ngược lại là thúc đẩy sự dị biệt. Những phẩm chất đó sẽ đƣợc nhận thức vượt ra khỏi khuôn khổ của phép biện chứng của những thế đối sánh - lịch sử Việt Nam trong đối sánh với Trung Quốc, Pháp hay Mỹ. Bên cạnh những tình trạng đối đầu và khủng hoảng giữa bên trong và bên ngoài, sự tương tác cũng có thể diễn ra trong dạng thức thương lượng, thích nghi, hội nhập và biến đổi. Những dạng thức đó tránh được thế lưỡng cực và đưa lại nhiều chiều cạnh hơn trong cuộc bàn thảo về những mối liên hệ nội tại. Đấu tranh, sự thu thuế, và sự nô dịch đều cùng tồn tại, nhưng những điều đó diễn ra phần lớn là cả bên trong và bên ngoài. Để vượt qua thế lưỡng cực thì việc theo đuổi chủ đề gặp gỡ, giao thoa là hết sức thú vị, theo đó Đông Nam Á được nhìn nhận như một khung cảnh rộng lớn hơn của lịch sử Việt Nam. Một số trải nghiệm của Việt Nam trong lịch sử có thể thực sự là riêng biệt nhưng nhiều phát triển khác có thể so sánh với khu vực. Thường thì cái gọi là bối cảnh tạo nên những đặc điểm mà sau này được cho là riêng biệt và những điểm giao thoa đặc biệt cũng thường diễn ra ở những nơi khác nữa. Ở đây khái niệm khu vực Đông Nam Á được sử dụng theo cách khá lỏng lẻo, bởi vì tôi ý thức được rằng đó là khái niệm gần đây được dùng để chỉ một khu vực được áp dụng như một địa bàn cho các nghiên cứu khu vực học. Sự hấp dẫn của Đông Nam Á ở đặc tính là một vùng không đồng nhất, mặc cho các mối liên hệ về văn hóa và thương mại đã được phát triển cao độ nhưng vẫn thường bị xem là được cấu thành nên bởi các yếu tố bên ngoài (có thể bởi yếu tố Ấn Độ, Trung Quốc hay phương Tây).

Bây giờ tôi sẽ trình bày với quý vị 4 giao điểm lịch sử cụ thể trong mối liên hệ giữa bên trong và bên ngoài của Việt Nam, trong khi vẫn cố gắng liên hệ chúng với khung cảnh Đông Nam Á. Những ví dụ cụ thể này, nói một cách ngắn gọn, có thể đưa lại một loạt những gợi mở cụ thể đối với mối liên hệ giữa bên ngoài và bên trong tác động đến Việt Nam. Tôi cho rằng trong mọi trường hợp thì mối liên hệ này đều là nền tảng cho việc làm bùng nổ những biến đổi có tác động lâu dài. Khi nói về việc tạo nên Việt Nam từ bên ngoài thì trong thời kỳ tiền cận đại người ta không thể không bàn về ảnh hưởng của Trung Quốc. Theo Victor Lieberman  (4)  thì với tính cách là một của vùng phía Đông của Đông Nam Á lục địa, Việt Nam đã chống lại sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc một cách bền vững hơn so với việc "nền văn hóa cao, xa lạ" được truyền bá đến Pagan, Angkor hay Ayutthaya. Điều này góp phần vào sự hội nhập chính trị và văn hóa thông qua một loạt chu kỳ theo kiểu giống như các lưu vực sông Irrawaddy và Chao Phraya. Tuy nhiên, như Alexander Woodside và một số người khác đã cắt nghĩa, người Việt Nam đã hiểu văn hóa Trung Quốc theo những cách riêng của mình, theo một cách mà trong đó đã diễn ra quá trình địa phương hóa văn hóa Trung Quốc kết hợp với cuộc đấu tranh giữ gìn nền độc lập. Quá trình địa phương hóa kết hợp với quá trình phi thực dân hóa đã tái hiện ở nhiều nơi khác trong khu vực Đông Nam Á qua các phương thức tiếp nhận và biến đổi văn hóa Hindu giáo - Phật giáo trong giai đọan từ năm 500 đến khoảng 1500. Chính trị, tôn giáo và kinh tế trộn xoắn với nhau, Phù Nam là thể chế chính trị đầu tiên được biết tới ở Đông Nam Á, mà Sriwijaya là thể chế kế tục nó - cả hai đều là những nơi diễn ra sự trao đổi văn hóa và hình thành đối tác văn hóa giữa Ấn Độ và Đông Nam Á. Tương tự như vậy, như Tony Day đã chỉ ra, rằng có những sự song trùng về cấu trúc giữa các mô hình Ấn Độ và mô hình Nho giáo của các nhà nước thiên hạ (cosmological states), bởi lẽ những quá trình cơ bản tạo nên chúng là giống nhau.

Thí dụ thứ hai của tôi là về thời gian đầu của thời kỳ cận đại, thế giới của thương mại biển và vai trò của những hãng buôn phương Tây. Trong một vài năm vừa qua đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về thương mại biển và những hải cảng ở châu Á từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII. Các sử gia Việt Nam, như các vị Giáo sư nổi tiếng Phan Huy Lê và Nguyễn Quang Ngọc đã nghiên cứu về lịch sử của Hội An, còn Hoàng Anh Tuấn đã hoàn thành nghiên cứu về vai trò của Đàng Ngoài trong hệ thống thương mại Châu Á của Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC). Hội An (hay còn gọi là Faifo) đã trở thành một thương cảng quan trọng trong hệ thống thương mại biển sau khi được lập ra bởi các Chúa Nguyễn nhằm cạnh tranh với Phố Hiến bên sông Hồng ở Đàng Ngoài. Những người định cư ở đó chủ yếu là người Trung Quốc và Nhật Bản, nhưng người Hà Lan cũng đã từng duy trì một thương điếm ở đó trong một thời gian ngắn. Các kho lưu trữ của VOC còn lưu giữ nhiều tài liệu về ngoại thương (overseas trade) của người Việt Nam - một đề tài cho tới nay mới chỉ thu hút được rất ít sự quan tâm nghiên cứu bởi phần lớn lịch sử dân tộc đều chỉ nói về các triều đại và nền chính trị. Sự tham dự của người Việt Nam vào hải sử (maritime history) của giai đoạn sơ kỳ cận đại cho phép tiến hành những so sánh thú vị với các thể chế hải cảng có quyền tự trị hạn chế. Các hải cảng Pegu, Phukhet, Malacca và những hải cảng của Việt Nam đều có những đặc tính có thể so sánh với nhau và đều là một phần trong lịch sử tự trị ở Đông Nam Á. Mặc dù hoạt động thương mại của chúng bị quy định bởi các nhà cầm quyền nội địa, cư dân của các cảng thị này rất đa dạng về nguồn gốc và thông qua hệ thống giao thương của mình, họ có ý nghĩa rất quan trọng trên bình diện quốc tế. Các luồng hàng hóa và kim loại quý lưu thông trong hoạt động giao thương đã có tác động to lớn đối với nền kinh tế các khu vực ven bờ của khu vực Đông Nam Á. Ở Đàng Ngoài, Champa và Đàng Trong, ảnh hưởng của thương mại biển đã làm biến đổi nền kinh tế và chính trị quốc nội theo những cách thức mà chúng ta còn chưa hiểu biết thật đầy đủ.

Điểm giao thoa thứ ba mà tôi nói tới là chủ nghĩa dân tộc với tính cách là một hệ thống các tư tưởng đã làm xói mòn chủ nghĩa thực dân và đặt cơ sở cho nền độc lập dân tộc. Ý niệm về dân tộc đã tồn tại ngay từ sơ kỳ lịch sử Việt Nam, nhưng chủ nghĩa dân tộc với tính cách là một hình thức của hiện đại hóa thì chỉ có thể được nhận thức thông qua mối liên hệ với bên ngoài. Dân tộc với tính cách là cộng đồng tưởng tượng (imagined community) đã phát triển thông qua việc chuyển giao các tư tưởng tiếp thu từ bên ngoài và được khuếch tán nhờ những nhân tố bản địa. Việc Phan Bội Châu ở Nhật Bản - đất nƣớc hiện đại đầu tiên ở châu Á đã đặt nền tảng cho việc hình thành một phong trào chống thực dân hiện đại khi Phan đã có thể phân tích nguyên nhân Việt Nam bị mất độc lập theo một cách mới. Vào những năm 20 của thế kỷ trước, một thể loại ấn phẩm mới ra đời và trở nên phổ biến là việc ấn hành tiểu sử nhân vật các bậc anh hùng ngoại quốc như Tôn Trung Sơn và George Washington. Hồ Chí Minh - người khai sáng của nước Việt Nam ngày nay, đã đi sang Pháp, Matxcơva, về Hoa Nam và ở những nơi đó ông đã tự xây dựng cho mình những tƣ tƣởng cơ bản đầu tiên về sự cần thiết phải có những thay đổi triệt để. Ông xuất bản ấn phẩm Đường Kách Mệnh ở Quảng Châu vào năm 1927, trong đó Hồ Chí Minh cho rằng nhân dân Việt Nam cần phải hiểu biết quá trình phát triển của những nước khác trên thế giới, và những người cách mạng phải hiểu biết phong trào trên thế giới và đề ra cho đồng bào một chiến lược chắc chắn. Trong một cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh được công bố gần đây, Pierre Brocheux đã nhấn mạnh rằng Hồ là một con người đứng ở vị trí giao thoa giữa hai thế giới, nối nhịp cầu giữa nền tảng triết học Nho giáo với những tư tưởng ông tiếp nhận ở châu Âu.

Nhưng lại một lần nữa, chúng ta có thể thấy lịch sử của những ý niệm về chủ nghĩa dân tộc Việt Nam có mối liên hệ với những quá trình phát triển tương tự ở các nơi khác trong vùng Đông Nam Á. Sự nội địa hóa tri thức phương Tây nhằm đạt tới những sự tiến bộ, chiến thắng trước nỗi mặc cảm là người kém cỏi và nhu cầu hành động nhằm giành được tự do đều là những yếu tố xuất hiện trong cùng thời gian ở Philippines và Indonesia. Tjipto Mangunkusumo ở Indonesia và Mabini ở Philippines đều có những tư tưởng cấp tiến nhưng đều dựa vào truyền thống. Các ông công kích không chỉ trật tự thực dân mà còn nhấn mạnh rằng: dân chúng không thể tự giải phóng sức mạnh của mình nhằm đạt tới mục tiêu tự do. Các khái niệm của một quá trình phát triển tuyến tính nhằm hướng tới tương lai tươi sáng, niềm tin tưởng rằng sức mạnh vô địch của những người dân bình thường là quan trọng bậc nhất trong việc tạo ra một trật tự xã hội mới, và tư tưởng cho rằng lịch sử cần phải được nghiên cứu từ góc nhìn so sánh có thể tìm thấy trong cả ba loại chủ nghĩa dân tộc ở Đông Nam Á (chủ nghĩa dân tộc kiểu Việt Nam, Indonesia và Philippines) trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX.

Điểm giao thoa thứ tư mà tôi đề cập tới bắt đầu vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, sau khi cuộc Chiến tranh Việt Nam và tình trạng đối đầu của cuộc Chiến tranh lạnh kết thúc. Từ sau cuộc Chiến tranh Thế giới II cho tới năm 1989 định hướng của Việt Nam ra bên ngoài bị thống trị bởi nhu cầu tìm kiếm sự ủng hộ của các nước Xã hội chủ nghĩa anh em nhằm chống lại những nƣớc đế quốc thù địch. Từ sau năm 1990, Việt Nam trong khi vẫn duy trì những nguyên lý ý thức hệ và chủ nghĩa yêu nước, đã khôi phục thế tương tác trước đây của mình với thế giới bên ngoài nhưng trong khuôn khổ của toàn cầu hóa và khu vực hóa. Và điều này đưa lại sự tăng cường các quan hệ ngoại giao và mối liên hệ kinh tế với thị trường ngoại quốc. Tư cách thành viên của ASEAN đã đóng vai trò là cầu nối giữa Việt Nam với khu vực và với thế giới.
Như Carlyle Thayer ghi nhận, những quan tâm ý thức hệ đã trở thành thứ yếu so với lợi ích dân tộc và chính sách thực dụng. Trong năm 1995 Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN và ký kết hiệp định khung với Liên minh châu Âu - tất cả đã đƣợc hoàn tất trong cùng một năm. Những chuyển biến bên trong của công cuộc Đổi mới đã kết hợp với quá trình đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Tuy nhiên, có một điều nghịch lý đang tồn tại, đó là: cho dù việc mở cửa nền kinh tế đưa lại ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhưng đồng thời tính độc lập trong nền kinh tế toàn cầu của Việt Nam cũng tăng lên. Đây là điều đã được chỉ ra rõ ràng qua tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á trước đây và cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gần đây. Việc đa phương hóa quan hệ đối ngoại có thể bù đắp lại sự mất cân bằng của quyền lực quốc tế, song cũng có thể hạn chế quyền tự do hành động hoàn toàn theo nguyên tắc chủ quyền quốc gia. Tuy vậy, Việt Nam cũng không phải là nước duy nhất đang ở trong quá trình chuyển biến của các mối quan hệ giữa bên trong với bên ngoài. Thông qua việc nghiên cứu các nền kinh tế ở Đông Âu hay một số khu vực ở Trung Á chẳng hạn cũng đưa lại những khám phá có thể so sánh với quá trình nói trên ở Việt Nam.

Vậy, từ bốn thí dụ nói trên về những điểm giao thoa có thể rút ra những kết luận gì liên quan tới các quan hệ đối ngoại ảnh hưởng tới sự phát triển của Việt Nam với tính cách là một dân tộc, và cách tiếp cận so sánh cho phép chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về vấn đề này nhƣ thế nào?. Nếu chúng ta lùi xa khỏi những trường hợp nghiên cứu đặt ra trong các khung thời gian nhƣ tiền thuộc địa, sơ kỳ cận đại, thời thuộc địa và thời hiện đại, đồng thời đặt trên mức độ quan sát phổ quát nhất thì sẽ thấy rằng các quá trình phát triển nội tại của Việt Nam không bao giờ có thể tách rời khỏi khung cảnh rộng lớn của khu vực Đông Nam Á hay toàn cầu. Nhưng chúng ta không thể hài lòng với riêng sự quan sát này, bởi tự nó chưa thể giải thích được các động lực bên trong và bên ngoài đã kết nối với nhau như thế nào. Ở đây tôi muốn đưa ra bốn đề xuất.
Thứ nhất, kinh nghiệm của thời kỳ tiền cận đại trong việc địa phương hóa những ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, cả ở Việt Nam và những phần khác trong khu vực Đông Nam Á đã cho thấy một quá trình có thể gọi là "cấy ghép văn hóa tích cực" (progressive enculturation) nhƣ là kết quả của một cuộc hiệp thương văn hóa. Nói theo cách của ngƣời Java là: con thuyền (wadhah) đã thay đổi nhưng hàng hóa (isi) vẫn như cũ. Hay nói theo cách khác, hình thức bề ngoài đã được cấy ghép, cái cốt lõi bên trong cũng đã cải biến, nhưng để thích ứng nó vẫn sao chép lại những gì vốn đã tồn tại trước đó.
Thứ hai, hoạt động giao thương thời sơ kỳ cận đại ở Hội An và các cảng thị khác dẫn tới sự hội nhập thương mại của Việt Nam vào thế giới thương mại biển Đông Nam Á. Những cảng thị đó là những địa điểm toàn cầu trong đó các tính cách dân tộc tương tác với nhau, các khu vực ven bờ và nội địa trở nên gắn kết, liên thông hơn.

Tình hình này cũng xảy ra ở nhiều đô thị ven bờ khác ở Đông Nam Á và có thể được gọi là quá trình "hội nhập đa nguyên" (plural integration).

Thứ ba, các nhà tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, hòa trộn các triết thuyết phương Tây với các tư tưởng bản địa đã thành công trong việc vận động các dân tộc thuộc địa đấu tranh chống thực dân giành lại quyền độc lập. Các lãnh tụ dân tộc ở Đông Nam Á đều chia sẻ trải nghiệm sinh sống ở nước ngoài và hấp thụ các tư tưởng mới, tiến bộ, đã đóng vai trò là tác nhân của sự biến đổi khi họ trở về tổ quốc. Quá trình giải phóng này với tính cách là kết quả của việc truyền bá những tư tưởng du nhập từ bên ngoài để huy động các lực lượng xã hội bên trong có thể tóm gọn lại là quá trình "chuyển dịch năng động" (dynamic transposition).

Thứ tư, việc mở cửa đón nhận quá trình khu vực hóa trong chính sách đối ngoại và nới lỏng sự kiểm soát của nhà nước đối với các hoạt động kinh tế là một quá trình trong đó Việt Nam noi theo các nước Đông Nam Á khác. Việc tự đặt mình cả về phương diện chính trị và kinh tế trong làn sóng toàn cầu hóa hiện nay có thể được gọi là quá trình "thích ứng nhanh nhậy" (responsive adaption).

Để kết luận cho bài phát biểu ngắn gọn của tôi tại đây, thông điệp chính của tôi là: sử học so sánh và môn Đông Nam Á học cho phép chúng ta nhìn nhận Việt Nam theo cách thức mới với góc nhìn rộng hơn. Nhằm hiểu rõ Việt Nam như Việt Nam ngày nay, chúng ta cần phải xem xét đất nước này đã phát triển trên cơ sở của những tương tác phức hợp giữa các yếu tố vật chất và phi vật chất từ bên ngoài với các động lực bên trong. Nhằm vượt qua khuôn khổ của những quan sát giản đơn đối với các mối liên hệ qua lại và các sự tương tác thường dưới dạng đối đầu, tôi đã đề xuất bốn phạm trù định tính: "cấy ghép văn hóa tích cực", "hội nhập đa nguyên", "chuyển dịch năng động" và "thích ứng nhanh nhậy". Tôi tin chắc rằng việc tiến hành các nghiên cứu theo đường hướng này sẽ mở ra những chiều cạnh mới cho ngành Việt Nam học, kết nối nó chặt chẽ hơn với những nghiên cứu về các nước trong khu vực Đông Nam Á và cả ở những nơi khác.

CHÚ THÍCH:

Nhung Tuyet Tran & Anthony Reid (eds), Vietnam, Borderless Histories, Madison, Wisconsin: University of
Minnesota Press, 2006, tr.3.
Nhung Tuyet Tran & Anthony Reid (eds), Sđd, tr. 17.
Oscar Samelink, ―Trading goods, prestige and power. A revisionist history of lowlander - highlander relation
Vietnam‖, in: Peter Boomgaard, Dick Kooiman, Henk Schulte Nordholt (eds.), Linking Destinies. Trade, Towns
and Kin in Asian History (Leiden: KITLV Press 2008) 51-69, tr. 52.
Victor Lieberman, Strange Parallels. Southeast Asia in Global Context, c 800-1830. Volume 1: Integration on
Mainland. Cambridge: Cambridge University Press 2003, xem chương 4.

Vị Trí Của Phật Giáo Trong Đời Sống Văn Hóa – Xã Hội Đông Nam Á


Vị Trí Của Phật Giáo Trong Đời Sống Văn Hóa – Xã Hội Đông Nam Á

Đông Nam á cơ bản tiếp nhận Phật giáo Tiểu thừa và căn cứ vào địa bàn ảnh hưởng người ta thường gọi Phật giáo Đông Nam á là Phật giáo Nam Tông. Còn các nước Bắc á như Trung Quốc, Triều Tiên - Hàn Quốc, Nhật Bản (kể cả Việt Nam) tiếp thu Phật giáo Đại thừa, nên thường được gọi là Phật giáo Bắc tông.
Phật giáo sở dĩ vào Đông Nam á cắm rễ sâu chắc trong xã hội, lại có ảnh hưởng to lớn vào đời sống tinh thần của người dân trong vùng bởi nó đã phải bản địa hoá, đã biết hoà đồng với các tín ngưỡng dân gian bản địa, đã biết dung nạp các yếu tố của các tôn giáo ngoại lai khác. Nói cách khác, Phật giáo vào từng nước Đông Nam á đã bị khúc xạ bởi các ý thức hệ ở các quốc gia đó.

Phật giáo vào Đông Nam á đã được dân gian hoá, bản địa hoá rất mạnh, rất sâu. Có thể nói, những học thuyết có tính chất tư biện, các tín điều khô khan, các suy tư huyền bí đã phần nào bị rơi rụng, giản lược đi để hoà quyện vào nó các tín ngưỡng dân gian bản địa chất phác và đơn giản. Một trong những đặc điểm nổi bật của Phật giáo ở Đông Nam á là tính chất đơn giản tượng trưng của nghi lễ. Khác với nghi lễ trong chùa chiền Bắc tông thường linh thiêng, ồn ào, trọng tâm của người xuất gia đến chùa chiền ở  Nam tông là sự hoà quyện giữa Đạo và Đời, sự nỗ lực của con người không phải là lễ bái mà là toạ thiền, suy tư về nguyên lý của Phật.
 Vị Trí Của Phật Giáo Trong Đời Sống Văn Hóa – Xã Hội Đông Nam Á
 Trần Thúc Việt(1)
 
1. Quê hương của đạo Phật là ở ấn Độ, đất nước có hàng trăm tôn giáo và hàng vạn thánh thần, trong đó có những tôn giáo lớn nhất và lâu đời nhất thế giới.
Phật giáo tồn tại và liên tục phát triển là cả một quá trình vừa phải đấu tranh với các tôn giáo khác (như Balamôn giáo, Hin đu giáo...) vừa phải đấu tranh ngay trong nội bộ Phật giáo về mặt giáo lý, và sau đó Phật giáo đã hình thành 2 giáo phái: Đại thừa (Mahayana) và Tiểu thừa (Hinayana).  
Đông Nam á cơ bản tiếp nhận Phật giáo Tiểu thừa và căn cứ vào địa bàn ảnh hưởng người ta thường gọi Phật giáo Đông Nam á là Phật giáo Nam Tông. Còn các nước Bắc á như Trung Quốc, Triều Tiên - Hàn Quốc, Nhật Bản (kể cả Việt Nam) tiếp thu Phật giáo Đại thừa, nên thường được gọi là Phật giáo Bắc tông.  
2. Phật giáo vào Đông Nam á khá sớm. Nó thâm nhập vào từng quốc gia trong những thời gian không như nhau, bằng những con đường khác nhau và ảnh hưởng của nó cũng không đều nhau.
Người ta dự đoán Phật giáo vào Đông Nam á quãng những thế kỷ I-II đầu công nguyên.
Việt Nam: Phật giáo du nhập vào quãng những năm 194-195 và trung tâm Phật giáo lớn nhất thời đó là Luy Lâu (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
 Inđônêxia: Phật giáo Đại thừa có mặt từ rất sớm, quãng thế kỷ II. Phật giáo phát triển rực rỡ thời kỳ quốc gia Srivijaya và ngôi chùa Borobudur là biểu tượng của kiến trúc Phật giáo nổi tiếng của cả khu vực thời đó. Đến thế kỷ XIII, Phật giáo Tiểu thừa xuất hiện thay thế Phật giáo Đại thừa.
- Thái Lan là quốc gia Phật giáo lớn nhất Đông Nam á, Phật giáo Tiểu thừa có mặt quãng thế kỷ I sau công nguyên.
Ở Campuchia quãng thế kỷ V và Lào, chậm hơn, quãng thế kỷ VII và chính thức Phật giáo có ảnh hưởng rộng lớn từ giữa thế kỷ XIV...
Phật giáo được truyền bá vào khu vực Đông Nam á chủ yếu bằng con đường truyền giáo hoặc giao lưu văn hoá, quan hệ thương mại bình thường. Lúc đầu, Phật giáo từ ấn Độ trực tiếp thâm nhập vào các nước vùng ven bờ biển phía Tây của Đông Nam á. Sau đó một số nước tiếp nhận Phật giáo gián tiếp qua một nước trung gian khác. Đây cũng là một nét đặc biệt của Phật giáo ở Đông Nam á.
Chẳng hạn, Lào tiếp nhận Phật giáo không trực tiếp từ ấn Độ mà từ Campuchia, Thái Lan. Trong nhiều con đường tiếp thụ Phật giáo của Thái Lan và Myanma có một con đường qua Srilanca. Thời kỳ đầu, Phật giáo đã qua đường biển từ ấn Độ vào thẳng nước ta. Nhưng đến quãng thế kỷ IV - V Phật giáo lại được truyền từ phương Bắc vào. Phật giáo Philippin được truyền bá từ Inđônêxia hoặc Mã Lai tới.
 
3. Phật giáo đã trở thành tư tưởng chính thống của nhiều quốc gia và là quốc giáo ở một số nước Đông Nam á.
Nói đến tôn giáo là nói đến hệ tư tưởng được biểu hiện trong giáo lý. Một tôn giáo muốn tồn tại và phát triển phải hội tụ 3 yếu tố: Người sáng lập - giáo lý - và tăng lữ tín đồ. Giáo lý là một phương tiện, một công cụ rất quan trọng để truyền bá tư tưởng tôn giáo. Cần chú ý rằng: Giáo lý của Phật giáo cũng như của các tôn giáo khác hoàn toàn không phải là chân lý (không phải là khoa học) nhưng nó là đôí tượng nghiên cứu của khoa học.
Phật giáo sở dĩ vào Đông Nam á cắm rễ sâu chắc trong xã hội, lại có ảnh hưởng to lớn vào đời sống tinh thần của người dân trong vùng bởi nó đã phải bản địa hoá, đã biết hoà đồng với các tín ngưỡng dân gian bản địa, đã biết dung nạp các yếu tố của các tôn giáo ngoại lai khác. Nói cách khác, Phật giáo vào từng nước Đông Nam á đã bị khúc xạ bởi các ý thức hệ ở các quốc gia đó.
Phật giáo vào Đông Nam á đã được dân gian hoá, bản địa hoá rất mạnh, rất sâu. Có thể nói, những học thuyết có tính chất tư biện, các tín điều khô khan, các suy tư huyền bí đã phần nào bị rơi rụng, giản lược đi để hoà quyện vào nó các tín ngưỡng dân gian bản địa chất phác và đơn giản. Một trong những đặc điểm nổi bật của Phật giáo ở Đông Nam á là tính chất đơn giản tượng trưng của nghi lễ. Khác với nghi lễ trong chùa chiền Bắc tông thường linh thiêng, ồn ào, trọng tâm của người xuất gia đến chùa chiền ở  Nam tông là sự hoà quyện giữa Đạo và Đời, sự nỗ lực của con người không phải là lễ bái mà là toạ thiền, suy tư về nguyên lý của Phật.
4. Phật giáo giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Đông Nam á. ở một số nước như Lào, Thái, Myanma... người ta đều khẳng định Phật giáo đã có những đóng góp nhất định vào việc xây dựng một nền văn hoá thống nhất, trong nền văn hoá dân tộc đều mang màu sắc Phật giáo, Phật giáo gắn liền với Tổ quốc và Dân tộc.
Có thể nói, ở các nước Đông Bắc á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam (ảnh hưởng vùng văn hoá đồng văn). Nho giáo đã đóng vai trò cơ sở tư tưởng quan trọng như thế nào thì ở các nước Đông Nam á lục địa như Thái Lan, Lào, Campuchia, Mayanama Phật giáo cũng giữ vai trò quan trọng như thế. Và hơn thế nữa, xét về phương diện Phật giáo được coi là tôn giáo của cả nước (quốc giáo), nó còn có vai trò quan trọng hơn nhiều trong đời sống mỗi con người từ nhỏ cho đến lớn, từ lúc sinh ra cho đến lúc mất đi. Con người khi cất tiếng chào đời được đưa vào chùa tính số đặt tên, đến tuổi trưởng thành vào chùa tu 3 năm nghĩa vụ, khi lập gia đình vào chùa làm lễ ba xí (buộc chỉ cổ tay) và khi về cõi Niết bàn, hoả táng để trong chùa. Phật giáo còn tác động tới đời sống của toàn xã hội từ vua quan cho đến người dân thường, từ trung ương cho đến các địa phương nhỏ nhất là thôn xóm bản làng...
Về mặt tổ chức, Phật giáo ở Đông Nam á với các nước coi nó là tôn giáo chính, có cả một hệ thống chùa chiền và sư sãi ở từng bản làng, thôn xóm đến cấp huyện tỉnh và cuối cùng đến cấp trung ương tương ứng với các cấp chính quyền của triều đình. Các nhà sư Thái Lan, Campuchia, Lào, Myanma là người có vai trò đặc biệt lớn lao trong đời sống xã hội. Nhà sư trở thành tấm gương đạo đức, nhân vật trung tâm, chỗ dựa tinh thần, là người bảo vệ những giá trị truyền thống của đạo Phật. Ở Thái Lan, nhiều triều đại phong kiến đã dựa vào uy tín và sức mạnh của Phật giáo để củng cố địa vị của mình. Có những trường hợp vua và sư không phân biệt, vua cũng là sư và sư trở thành vua. Ở Lào, trải qua nhiều triều đại vua - sư gắn bó mật thiết với nhau trong việc giải quyết nhiều vấn đề chính trị quốc gia.
Về hoạt động tôn giáo: chúng ta không cường điệu mà nói rằng, hầu như quanh năm suốt tháng từ cộng đồng nhỏ bé ở làng bản đến cộng đồng rộng lớn của cả nước luôn bị cuốn hút vào các lễ hội, bun than vừa mang tính tôn giáo của đạo Phật vừa có tính thế tục đậm đà của phong tục xứ sở ở các nước Đông Nam á.
Một trong những biểu hiện cụ thể nhất, sinh động nhất của các tổ chức và hoạt động Phật giáo là vai trò to lớn của chùa đối với con người. Nếu như Thiên chúa giáo coi nhà thờ là nơi để con chiên có thể gặp được chúa ở “thế giới bên kia” (dù chỉ trong ảo tưởng) thì ngôi chùa Phật giáo là nơi các Phật tử có thể đến đó để thoả mãn nhu cầu đời sống tình cảm tâm linh, hướng về đức Phật từ bi. Nhưng khác với nhà thờ và khác với các ngôi chùa của Phật giáo Đại thừa ở Bắc phương, ngôi chùa ở Đông Nam Á có ý nghĩa hết sức đặc biệt. Ở đây, chùa không chỉ là trung tâm về tôn giáo mà còn là trung tâm văn hoá - xã hội. Chùa đồng thời là trường học dạy chữ, đạo cho con em nhân dân, là nơi sáng tác văn chương. Ở Lào, Campuchia một số nhà thơ lớn trưởng thành từ trong chùa (Xôm xỉ Đê xa, Bôtum Mătthê Xôm). Chùa là nơi lưu giữ các tác phẩm nghệ thuật, là thư viện, là bệnh viện, nhà trọ, nơi hội hợp quyết định những vấn đề quan trọng của bản mường. Chùa vừa là nơi thờ Đức Phật vừa là nơi để người dân đến vui chơi hội hè, mừng được mùa, hơn nữa một số chùa ở một số nước Đông Nam á còn là nơi để cúng ông bà tổ tiên và các vị thần địa phương.
Như vậy, ngôi chùa ở Đông Nam á trước đây chính là nơi cung cấp tri thức văn hoá nói chung cho con em những người lao động. Ở đây, cái thiêng liêng, u mặc của tôn giáo huyền bí bị giản lược để hoà quyện một cách tự nhiên với các sinh hoạt thế tục sôi động của cuộc đời.
Hiện nay, nhà chùa ở nhiều nước Đông Nam á tổ chức các lớp học không thu tiền. Ở thủ đô Phnômpênh (Campuchia) nhà chùa còn giành ra một số phòng cho những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đến cư trú.
Ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn học nghệ thuật Đông Nam á là khá toàn diện và sâu sắc.  
Khi xây dựng nền văn học viết truyền thống ở một số nước Đông Nam á bên cạnh tiếp nhận các kinh kệ, giáo lý Phật giáo, đã tiếp nhận chữ viết ấn Độ, từ đó tiếp nhận cả các đề tài, cốt truyện, tác phẩm văn học ấn - Phật. ở các nước Lào, Thái Lan, Myanma, văn học có nhiều xu hướng, nhiều tính chất, trong đó văn học có tính chất Phật giáo chiếm số lượng tác phẩm đáng kể.
Hệ tư tưởng Phật giáo không chỉ ảnh hưởng tới người sáng tác mà còn ảnh hưởng sâu đậm đến công chúng thưởng thức văn học. Văn học nhà chùa mang đậm tính chất Phật giáo đã trở thành một đặc điểm nổi bật của nền văn học Lào - Thái Lan - Myanma. Giáo lý đạo Phật đã trở thành tư tưởng chủ đạo trong nhiều ánh văn chương. Cho nên, khi tiếp xúc với văn học Lào - Thái Lan - Myanma thì tính mâu thuẫn, nhất là xung đột, đấu tranh giai cấp thường không mạnh mẽ bằng các nền văn học ở các quốc gia Đông Nam á khác.
Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc chùa chiền Phật giáo ở khắp các nước Đông Nam á thể hiện rõ nét nhất về vị trí của đạo Phật trong đời sống tinh thần người dân Đông Nam á. Những ngôi chùa nổi tiếng là công trình kiến trúc đồ sộ như Borobudur (Inđônêxia) và Thạt luổng (Lào) hay rất nhiều chùa chiền ở Campuchia, Thái Lan, Myanma đã trở thành niềm tự hào và là biểu tượng thịnh vượng của đạo Phật Tiểu thừa ở khu vực.
Nhìn chung, Phật giáo ở Đông Nam á nằm trong một phức hợp văn hoá tôn giáo vừa khá đa dạng vừa hoà hợp vào nhau. Trong đó những tín ngưỡng dân gian chất phác tràn ngập vào trong kinh kệ thiêng liêng đến mức có thể che lấp hoặc giảm nhẹ tính chất tư biện, cao siêu của giáo lý. Phật giáo cũng không tồn tại một cách thuần khiết bởi nó thấm đượm những yếu tố của tín ngưỡng bản địa và tàn dư văn hoá của các tôn giáo vào trước nó. Sự đan xen hoà hợp dung nạp giữa của yếu tố văn hoá và tôn giáo trên đây đã tạo nên một gương mặt đặc biệt cho Phật giáo ở Đông Nam á. Cũng chính vì vậy Phật giáo tồn tại và phát triển, trở thành tôn giáo chính và có vai trò hết sức to lớn trong đời sống văn hoá, xã hội Đông Nam á./.
 Chú Thích:
(1)Trường Đại học KHXH&NV – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Viết bởi Trần Thúc Việt

Trầu cau trong văn hóa Đông Nam Á

Trầu cau trong văn hóa Đông Nam Á



   Cây cau, giàn trầu và tục ăn trầu, tục dâng trầu cau trong các dịp cúng lễ gắn bó rất thân thiết và rất thiêng liêng trong tâm hồn người Việt Nam. Trong mấy ngàn năm lịch sử cho đến ngày nay và có lẽ là mãi mãi, trầu cau luôn hiện diện trong đời sống các dân tộc Việt Nam và các dân tộc Đông Nam Á và xa hơn là cả An Độ. Dấu ấn trầu cau tồn tại rất nhiều trong văn hóa Việt Nam nóitraucau1.jpg riêng và vùng Đông Nam Á nói chung. Trầu cau hiện diện trong các dịp quan trọng như cưới hỏi, cúng giỗ và hình ảnh trầu cau rất thiêng liêng trong tâm hồn người Việt và các dân tộc Đông Nam Á. 
   Có nhiều nhà nghiên cứu về trầu cau trong lịch sử văn hóa của các dân tộc Đông Nam Á và An Độ, sau này mở rộng cả ra các vùng khác như Paul Mus, Huard,…Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Ngọc Chương đã viết “Trầu Cau Việt Điện Thư” (NXB TP.HCM, 1997)–một cuốn sách viết rất sâu sắc về trầu cau. Với tâm huyết của mình, nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Chương đã trình bày những hiểu biết sâu sắc về trầu cau và cuộc sống của người Việt cổ xưa qua việc tìm hiểu, nghiên cứu, nghiền ngẫm lâu dài. Trong bài thảo luận này, chủ yếu là tôi tóm tắt viết lại vài nét về trầu cau trong văn hóa Đông Nam Á từ cuốn sách của ông. Cuốn sách của ông đã cho tôi một sự  thích thú, sự bất ngờ đặc biệt khi hiểu biết thêm về nền văn hóa dân tộc ta và mở rộng ra văn hóa Đông Nam A, văn hóa An Độ và đến cả nền văn hóa cổ xưa của nhân loại qua nghiên cứu về trầu cau của ông. Xưa kia, trước khi con người tìm ra lúa gạo thì cây họ cau là phổ biến, con người lấy bột từ thân cây để làm bánh, nấu rượu để ăn uống, lấy mo cau làm áo quần, nhà ở.  Từ đó, cây cau trở thành những biểu tượng thiêng liêng trong tâm thức con người trước cây lúa…
    Ở Việt Nam, vấn đề trầu cau được ghi lại trong sử thi “Lĩnh Nam Trích Quái” kể từ thời vua Hùng nước VĂN  LANG, với truyền thuyết sự tích về trầu cau mà bất cứ người Việt Nam nào cũng biết. Truyện kể về tình nghĩa keo sơn gắn bó giữa anh em họ Cao là Tân và Lang, vợ chồng giữa chàng Tân và người vợ họ Lưu tên Liên–do hiểu lầm nên người em (Lang) bỏ đi và chết bên bờ suối, biến thành một cây cao, thẳng (cây cau), người anh (Tân) đi tìm em cũng  đến bên bờ suối, kiệt sức và chết bên cây cao, biến thành tảng đá vôi trắng. Người vợ đi tìm và cũng gục ngã bên hai cây cau, trầu, nàng biến thành cây leo (trầu) quấn quít quanh phiến đá trắng ở gốc cây. Cha mẹ người vợ và người trong vùng thương xót, lập miếu thờ cúng ca tụng anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa. 




     Vua Hùng đi tuần thú, dừng chân nghỉa mát dưới gốc cây là xum xuê, dây leo chằng chịt mới hỏi và biết chuyện, vua thương xót hồi lâu vua sai lấy quả ở cây và lá ở dây leo nhai và nhổ nước quả và lá lên phiến đá–thấy có sắc đỏ, mùi vị thơm tho. Vua sai nung đá lấy vôi ăn cùng với quả và lá, thấy mùi vị thơm ngon, môi đỏ má hồng biết là vật quý. Từ đó cây được trồng ở khắp nơi, đó là cây cau, cây trầu và vôi -bộ ba cau-trầu-đá và quả cau, lá trầu trở thành biểu tượng của lòng thủy chung, tình nghĩa và người Việt Nam ta đều lấy cau trầu làm đầu câu chuyện trong cưới hỏi, lễ tết. Xưa gọi các con trai của vua Hùng là Lang như Lang Liêu trong sự tích Bánh chưng bánh giày - Lang tương ứng với chàng võ sĩ, Tân là mới–Tân Lang là chàng mới, là con rể. Văn là vết tích như vết vằn, vết vẽ trên mình–Văn Lang là đất nước của những người anh hùng mang vết vằn…Tân  Lang là tên của cây cau, cây trầu.  Tân là mới, là cây cau, là khách mời. Con gái là nàng, là Kiều Nguyệt như Thúy Kiều, Nguyệt Nga, Giáng Kiều–Kiều là cây họ cau. Kiều cũng là giàn trầu, vườn trầu. Trầu cau quấn quít...trầu cau là đầu câu chuyện, là đầu mối lương duyên, là thước đo thời gian, là biểu tượng sự thủy chung, là lễ vật thiêng liêng trong cúng tế, cưới hỏi …

     Dân tộc nào ở Đông Nam Á cũng có những câu chuyện kể về cây cau, cây trầu. Vùng Nam Á là vùng trầu cau rộng lớn – người dân ăn trầu trong suốt hàng ngàn năm lịch sử.  Trang 310 trong sách trên của nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Chương có trích dẫn lời của Georges Lebrun viết về vùng trầu:

    “Vùng phát triển hiện nay có thể định rõ bằng một đường đi từ bờ biển phía Đông của đảo Madagascar và Zanzibar, có thể đến châu Á tới miền sông Indus, rồi đến bờ sông Dương Tử và qua Đài Loan và Philippines, sẽ đến Indonexia vùng Moluques bao quanh các đảo Mariannes, Caroline, Salomon, Fidji, Bismarck, và Tân Guinée, để khép kín ở đảo Ruênion, đi qua Eo Torrès, biển Arafoura, Timor về phía Nam những đảo Sonde. Có thể nói trầu cau ở những vùng đất….rộng 8 triệu cây số vuông có 200 triệu người ăn trầu kể cả đàn ông, đàn bà, già trẻ, từ ông hoàng đến người dân, thuộc về tất cả các giống người, tất cả các tôn giáo."

    Từ 340 trước công nguyên, Théophraste đã tả cây cau, đã được kể đến trong những bản viết chữ Phạn và chữ Hoa. Trầu được kể đến trong chữ Pali trong một cảnh xảy ra năm 504 trước công nguyên. Nhà sử học người Iran là Ferishta kể rằng vào thế kỉ thứ sáu, trầu rất được coi trọng ở Iran mà ngày nay đã thu hẹp lại. Marco Polo và Ibn Batuta đã nói đến vào thế kỉ thứ 14 trong những điều kể về những cuộc du hành của các ông. Người việt Nam giải thích bằng một truyền thuyết rất phổ biến vào năm 2000 trước công nguyên vào thời vua Hùng.

    Lúc nào người ta cũng ăn trầu được. Ở Myanmar người ta ăn trầu rất sớm mà một ngạn ngữ cổ đã nói rằng không ai có thể nói được tốt tiếng nói của mình trước khi đã học ăn trầu. Chỉ có giấc ngủ và khi luyến ái người ta mới ngừng cái đam mê này, mà nhiều người An khi ngủ vẫn ngậm trầu trong mồm mình. Những thanh nữ người Tagale coi như biểu hiện sự chân thành về tình cảm của mình đưa trầu ra khỏi miệng (theo bác sĩ Louis Lewin)”. Như vậy, có thể nói, trầu cau chiếm giữ vị trí rất gần gũi nhưng trang trọng, thiêng liêng trong văn hóa nhân loại. Đông Nam Á là cái nôi của cây cau, cây trầu là vùng trầu rộng lớn, trầu cau là những tín hiệu chứa đựng những hiểu biết về nền văn minh nhân loại.

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Chương đã đưa ra rất nhiều liên tưởng mới liên quan đến trầu cau, gợi mở ra những con đường mới và góp phần vào việc tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa Đông Nam Á. Trầu cau và tục ăn trầu là nét đặc sắc trong văn hóa Đông Nam Á–là một trong những nét văn hóa đặc trưng tiêu biểu cho sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa Đông Nam Á.

    Việc tìm hiểu văn hóa Việt Nam nói riêng và văn hóa Đông Nam Á qua những liên quan đến trầu cau là điều rất mới mẻ, thú vị và rất sâu sắc. Tuy nhiên ở đây, tôi chỉ xin trình bày lại một vài điều mà nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Chương viết trong tập sách “Trầu Cau Việt Điện Thư” của ông. Trầu cau ngày nay không còn được nhiều người đem theo để mời khách hay nhai trầu nữa  nhưng vẫn không thể nào thiếu được trầu cau trong những dịp lễ tiết quan trọng trong vòng đời người như trong cưới hỏi, lễ tiết thiêng liêng của người Việt nói riêng, các dân tộc khác ở Đông Nam Á nói chung như người Thái, người  Lào, người Indonesia, người Myanmar … và nhiều dân tộc châu Á khác như người Trung Hoa, người An Độ, …


Đặng Thị Hường

Dựa vào "tâm thức Đông Nam Á" để vươn mình


Dựa vào "tâm thức Đông Nam Á" để vươn mình


"Đến lượt mình, trong sự hội tụ lần thứ hai này, chúng ta cần khẳng định tâm thức và các giá trị Đông Nam Á để xây dựng một tổ chức khu vực - ASEAN vững mạnh góp phần khẳng định những giá trị phương Đông rộng lớn, đa dạng bên cạnh những giá trị phương Tây".
LTS: Nhân việc Việt Nam giữ chức Chủ tịch luân phiên của ASEAN, Bee giới thiệu bài viết của nguyên Viện trưởng Viện Đông Nam Á, GSTS Phạm Đức Dương "ASEAN trong thế đứng mới". 
Tôi còn nhớ những ngày 21 – 23/8/1991, tại Hà Nội, chúng tôi cùng với ông M.Rajarenam – Giám đốc Trung tâm Thông tin và Tài nguyên - tổ chức cuộc hội thảo quốc tế với chủ đề "Tác động qua lại với sự tiến bộ: Chính sách mới của Việt Nam và kinh nghiệm của ASEAN”. Hơn 100 chính khách, trong đó hơn một nửa là các học giả ASEAN đã tới dự, dưới sự chủ trì của ngài Phan Văn Khải, lúc đó là Phó Thủ tướng thường trực Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với một số chính khách trong khu vực.
Chúng ta cần khẳng định tâm thức và các giá trị Đông Nam Á để xây dựng một tổ chức khu vực - ASEAN vững mạnh
Chúng ta cần khẳng định tâm thức và các giá trị Đông Nam Á để xây dựng một tổ chức khu vực - ASEAN vững mạnh
Một trong bốn đề tài chính của hội thảo được tranh luận nhất là chủ đề thứ tư: “Sự hội nhập của Việt Nam vào ASEAN: Những vấn đề còn tồn tại”. Người ta thảo luận nhiều về khái niệm hội nhập (Intergration), lợi thế và gánh nặng - lúc đó phe Xã hội Chủ nghĩa bị sụp đổ; các nước Đông Âu muốn được gia nhập khối EU nhưng người ta ngại rằng những nước cộng sản nghèo sẽ là gánh nặng cho họ. Có người cũng đã nghĩ về Việt Nam, Lào, Campuchia như vậy.
Do đó, các bạn ASEAN nhấn mạnh tới những thách đố, những khó khăn để chúng ta lựa chọn: Một là, Việt Nam vẫn có thể đứng ngoài lề dòng chính của phồn thịnh Đông Nam Á; hai là, Việt Nam cần hợp tác với Đông Nam Á và Châu Á nếu Việt Nam không muốn mình bị cô lập khi xảy ra những biến cố ở Liên Xô và Đông Âu. 
Có một học giả Thái Lan còn đưa ra một lộ trình 13 năm Việt Nam gia nhập ASEAN! Còn các học giả Việt Nam thì khai thác những lợi thế của tình hình thế giới và những lợi ích của khu vực, đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập.
Cuối cùng, hội nghị cũng đã nhất trí giao cho cơ quan tổ chức hội thảo chuẩn bị một số khuyến nghị gửi chính phủ các nước, nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác khu vực trước khi diễn ra cuộc hội nhập thượng đỉnh các nước ASEAN vào năm 1992, cờ Việt Nam lại được kéo lên trong hội nghị thượng đỉnh họp tại Brunei với tư cách là thành viên đầy đủ của ASEAN. Năm 1998, Campuchia là nước thứ 10, nước cuối cùng gia nhập ASEAN sau Lào và Myanmar.

Suy cho cùng, đó là con đường tất yếu của diễn trình lịch sử Đông Nam Á từ truyền thống đến hiện đại.
Hai bước hội tụ
Chúng ta có hai Đông Nam Á: Một Đông Nam Á tiền sử với địa bàn phân bố rất rộng – từ Nam Trung Quốc đến Đông Bắc Ấn Độ và trôi dạt tận Madagascar Châu Phi, Hawai - châu Mỹ; một Đông Nam Á hiện đại với 11 nước như hiện nay.

Đông Nam Á tiền sử và sơ sử là nơi hội tụ của nền văn minh lúa nước với một phức thể văn hóa gồm ba yếu tố: Văn hóa núi, văn hóa đồng bằng, văn hóa biển. Yếu tố đồng bằng tuy có sau nhưng đóng vai trò chủ đạo.
Bước hội tụ này được thực hiện trong quá trình chuyển từ nền kinh tế tước đoạt sang nền kinh tế sản xuất, với hai giai đoạn: nông nghiệp trồng rau củ và nông nghiệp trồng lúa nước, tương ứng với hai loại hình kỹ thuật: Công cụ đá và công cụ đồng sắt.
Quá trình hội tụ ở đây bắt nguồn từ nhiều trung tâm khác nhau cho nên không mang tính đơn tuyến trong sự biệt lập mà mang tính đa tuyến trong sự tiếp xúc đan xen nhiều chiều, tạo nên những đường đồng quy, những cấu trúc tộc người - văn hóa đa thành phần mang đậm sắc thái dân tộc và dấu ấn địa phương. Vì thế một đặc trưng nổi bật của văn hóa Đông Nam Á, nói theo thành ngữ của Indonesia là “Thống nhất trong đa dạng”.

Thế rồi hơn hai thiên niên kỷ trôi qua, trải bao thăng trầm của lịch sử, các nền văn minh nông nghiệp Đông Nam Á đã bị giải thể cấu trúc để phỏng theo vào mô hình Trung Hoa hay Ấn Độ, hình thành các quốc gia cổ đại với tên tuổi của các nền văn minh Angkor, Sukhothay, Lạn Xang, Pagan, Malayxia, Majapalut, Đại Việt…
Khi chủ nghĩa thực dân Phương Tây xâm lược và biến Đông Nam Á, châu Á thành thuộc địa của chúng, thì từ đó các dân tộc Đông Nam Á có chung một thân phận nô lệ, có chung một cuộc đấu tranh lâu dài vì độc lập và tự do.
Bước hội tụ lần thứ hai của Đông Nam Á thời hiện đại này được khơi nguồn từ phong trào giải phóng dân tộc và công cuộc phi thực dân hóa, để xây dựng một khu vực Đông Nam Á phát triển trong sự chuyển hướng chiến lược toàn cầu, từ đối đầu sang đối thoại, từ châu Âu - Đại Tây Dương sang châu Á - Thái Bình Dương với hai cuộc cách mạng đồng thời: Cuộc Cách mạng khoa học công nghệ chuyển từ văn minh công nghiệp sang nền văn minh tin học hóa (hay hậu công nghiệp) và chuyển từ Chủ nghĩa Tư bản sang Chủ nghĩa Xã hội (hay hậu tư bản) và hai quá trình đồng thời: Khu vực hóa và toàn cầu hóa.
ASEAN - một tổ chức khu vực vốn là sản phẩm của thời kỳ đối đầu giữa hai phe, nay đã trở thành nơi hội tụ của Đông Nam Á hiện đại với sự gia nhập của Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar. Ở đây ý thức về khu vực (mà có người gọi là chủ nghĩa khu vực) đã vượt lên những định kiến của ý thức hệ, thể chế chính trị tôn giáo… để đi vào vận hội mới, sự hội nhập lần này mà ASEAN là tổ chức đại diện được xác lập trên hai bình diện:

Một là, về kinh tế chính trị người ta dựa trên lợi ích để quy đồng mẫu số. Đó là việc giải quyết thỏa đáng giữa lợi ích quốc gia dân tộc và lợi ích khu vực dựa trên nguyên tắc đồng thuận, không can thiệp vào nội bộ của nhau, có sự chiếu cố lẫn nhau.
Ở đây là sự cố kết cần thiết của các nước nhỏ để tạo nên sức mạnh tập thể - sức mạnh của khu vực văn hóa nhằm ứng phó với các nước lớn, tình trạng batá bình đẳng trong quan hệ quốc tế. Do đó, ASEAN phải thu xếp một cách hợp lý đồng thời hai mối quan hệ hết sức chặt chẽ về lợi ích: Lợi ích giữa quốc gia dân tộc với lợi ích khu vực; Lợi ích khu vực với lợi ích quốc tế.

Xét trên bình diện này thì ASEAN còn phải chật vật lắm thì mới trở thành một khu vực hợp tác kinh tế, để có sức cạnh tranh và xác lập mối quan hệ tùy thuộc lẫn nhau (Interdependance), dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi.
Những bất cập và bất lợi

Là những nước đang phát triển, trong quá trình toàn cầu hóa, ASEAN phải đương đầu với những bất cập và bất lợi trong những trò chơi quyền lực giữa các nền kinh tế mạnh và yếu trên thế giới. Theo Aleem Kwa thì ngay cả khi ta đang ra sức phấn đấu cho những chương trình phát triển với tỷ lệ tăng trưởng cao của GDP thì sự tăng trưởng đó đồng thời cũng đã làm tăng thêm sự phân hóa giàu nghèo, nghĩa là: đói nghèo, suy thoái môi trường cũng ngày càng gia tăng. Như vậy, đối với các nước đang phát triển, GDP không phải chỉ là thước đo của sự tăng trưởng mà còn là mức đo tốc độ tàn phá nguồn lực (xem Aleem Kwa: WTO và các nước đang phát triển).
Hai là, về mặt văn hóa xã hội, chúng ta lấy “tâm thức”của người Đông Nam Á làm điểm tựa cho sự hội nhập. Đó là tâm thức của cư dân nông nghiệp lúa nước mong muốn một cuộc sống an khang, hòa hiếu, “lá lành đùm lá rách”, “bán anh em xa mua láng giềng gần... Đó là những giá trị, những hằng số của văn hóa các dân tộc đang được phát huy tác dụng tích cực trong quá trình hội tụ ở Đông Nam Á. Nhờ đó mà chúng ta có thể vượt qua những mâu thuẫn, những định kiến.
Cái mà tôi gọi là “tâm thức Đông Nam Á” chính là cái cốt lõi của đặc trưng Đông Nam Á “thống nhất trong đa dạng”. Đó là thế mạnh của chúng ta. Nó giúp chúng ta điều chỉnh lợi ích của các quốc gia, làm đòn bẩy cho sự hội nhập kinh tế và quan hệ quốc tế.
Chúng ta đều biết, để khẳng định được những giá trị Phương Tây, châu Âu đã phải trả một cái giá rất đắt. Họ đã đi từ cuồng tín, hủy diệt (các cuộc chiến tranh đẫm máu triền miên) để tiến tới sự khoan dung.
Ngày nay, mặc dù còn rất nhiều mâu thuẫn, nhưng “những giá trị Phương Tây” đã giúp Châu Âu cố kết với nhau tạo nên sức mạnh thống nhất về ý thức hệ, tôn giáo, thể chế chính trị, cơ cấu kinh tế… trong một tổ chức khu vực mạnh như EU. Gần đây người ta đề cập đến các giá trị Châu Á để giải thích sự phát triển thần kỳ của các con rồng.
Đến lượt mình, trong sự hội tụ lần thứ hai này, chúng ta cần khẳng định tâm thức và các giá trị Đông Nam Á để xây dựng một tổ chức khu vực - ASEAN vững mạnh góp phần khẳng định những giá trị phương Đông rộng lớn, đa dạng bên cạnh những giá trị phương Tây để bổ sung (chứ không phải loại trừ) cho nhau trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập Đông - Tây, điều chỉnh một cách hợp lý giữa lợi ích các nước đang phát triển và các nước phát triển.

Hy vọng rằng, với vị thế của mình trong tổ chức ASEAN Việt Nam sẽ có những sáng kiến nhằm góp phần cùng với ASEAN giải quyết tốt có hiệu quả việc hợp tác kinh tế trên cơ sở khai thác những giá trị văn hóa Đông Nam Á.
GSTS. Phạm Đức Dương

ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG TRONG NẾP SỐNG NGƯỜI VIỆT

ẢNH HƯỞNG VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG TRONG NẾP SỐNG NGƯỜI VIỆT




1. Trước hết xin được bàn đến khái niệm "phương Đông" 

Thuật ngữ phương Đông cho đến nay vẫn là đề tài  gây tranh luận. Xuất phát từ quan niệm lúc đầu của người phương Tây, orient (phương Đông) hoàn toàn mang tính chất địa lý để chỉ toàn bộ khu vực châu á nằm ở phía đông của phương Tây. Người châu Âu lấy mình làm tâm điểm để phân biệt phương Đông thành Cận Đông, Trung Đông và Viễn Đông. Từ các góc độ khác nhau, thuần địa lý hay địa- văn hoá, địa- chính trị, địa- ngôn ngữ, khái niệm phương Đông đã được quan niệm khác nhau. Khi người châu Âu đi ra ngoài lục địa của mình thì khái niệm phương Đông của họ đã được mở rộng, bao gồm cả Đông Bắc Phi, châu Đại Dương và những vùng mà người châu Âu ít biết đến.

Đến nay trong giới khoa học giới hạn của phương Đông đến đâu vẫn chưa hoàn toàn thống nhất được ý kiến. Do vậy, mỗi khi  bàn đến phương Đông thông thường người ta hay đưa ra một khung không gian cụ thể để định vị đối tượng mà người ta muốn nói bởi vì phương Đông rộng lớn và bao hàm trong đó nhiều tiểu khu vực khác nhau.

Các nhà sử học của Việt Nam hầu như tương đối thống nhất với ý kiến cho rằng phạm vi không gian phương Đông có tầm ảnh hưởng lớn đến Việt Nam là hai vùng Đông Bắc á (mà nhiều người còn gọi là Đông á) và Đông Nam á. Chính vì vậy, khi nói về ảnh hưởng của văn hoá phương Đông đến Việt Nam thông thường người ta hay bàn đến ảnh hưởng văn hoá của vùng  nói trên.

Tiến sỹ Sử học Vũ Minh Giang trong các công trình nghiên cứu của mình đã đưa ra một số nét khái quát đặc trưng về văn hoá của hai vùng Đông á và Đông Nam á mà chúng ta có thể cùng chia sẻ. Theo ông, Đông á là một thế giới bao gồm nhiều nền văn hoá cùng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn minh Trung Hoa. Khu vực này lại được chia ra thành các vùng khác nhau, gồm:

Lưu vực sông Hoàng Hà (trung tâm của văn minh Trung Hoa) với đặc trưng văn hoá cụ thể như: Về sản xuất là kinh tế nông nghiệp khô kết hợp với du mục và thương nghiệp nội địa, sản xuất luôn cần đến thuỷ lợi (kênh đào). Về ăn, mặc thường là ăn bánh bao, cháo kê, thịt dê, cừu; mặc đồ lụa, gai; ở nhà hầm đào sâu dưới đất. Về quy phạm đạo đức và đời sống tâm linh vùng này trọng lễ nghĩa, tuổi tác, chức tước, học thức, sùng bái đạo Thần tiên, tin vào định mệnh. Nho giáo là chuẩn mực chi phối đời sống tâm linh, đồng thời Phật giáo Thiền và Đạo giáo có ảnh hưởng sâu rộng.

Lưu vực sông Trường Giang: Trong sản xuất có đặc trưng văn hoá trồng lúa nước. Trong đời sống lấy thuỷ sản làm chất đạm chính, mặc đồ nhẹ, ở nhà tre, nứa; giao thông đường thuỷ phát triển hơn đường bộ. Về quy phạm đạo đức và đời sống tâm linh trọng thờ cúng tổ tiên, sùng bái tự nhiên, trọng quan hệ cộng đồng, ưa sự giản dị; Đạo giáo ở đây có ảnh hưởng lớn.

Quần đảo Nhật Bản: Đặc trưng văn hoá trong sản xuất là canh tác lúa nước. Trong sinh hoạt ăn cơm với thức ăn chính là hải sản, mặc đồ ấm, ở nhà sàn và thuyền là phương tiện đi lại quan trọng. Về quy phạm đạo đức và đời sống tâm linh, người Nhật Bản đề cao tính cần cù, nhẫn nại, trọng sức mạnh cộng đồng. Do cuộc sống luôn bất trắc nên có tính cứng rắn, tôn trọng kỷ luật, tiết kiệm, biết lo xa và tính toán tỉ mỉ; Coi trọng bổn phận, nghĩa vụ, trọng kinh nghiệm, tuổi tác; Đề cao vai trò của thủ lĩnh, trọng chữ tín; Đề cao Thần Đạo- một tôn giáo của  riêng Nhật Bản có sự hoà trộn nhiều yếu tố Nho, Phật trên nền tín ngưỡng Nữ Thần Mặt Trời.

Còn khu vực Đông Nam á có hai vùng là lục địa và hải đảo. Cả khu vực này đều chịu tác động của hai nền văn minh lớn là ấn Độ và Trung Hoa và có các đặc trưng văn hoá như sau: Sản xuất trồng lúa nước và đánh cá; ăn cơm với rau, thực phẩm chủ yếu là thuỷ sản với nhiều hương liệu; Thích ăn đồ tươi sống, mặc thoáng mát, ở nhà sàn, đi lại bằng thuyền. Về quy phạm đạo đức trọng tình hơn trọng lý, trọng quan hệ cộng đồng, gia đình, trọng kinh nghiệm và tuổi tác. Mẫu quyền có ảnh hưởng mạnh và dai dẳng, quan hệ làng xã đậm nét. Trong đời sống tâm linh con người ở đây sùng bái tự nhiên, coi trọng thờ cúng tổ tiên, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo, Khổng giáo, ấn giáo và Hồi giáo.
Nét nổi bật trong cách ứng xử ở cả hai khu vực Đông á và Đông Nam á là sự mềm dẻo và đây được coi là chuẩn mực trong quan hệ xã hội
2. Về khái niệm “nếp sống” có lẽ cũng nên làm cho rõ.

 Người ta hay nói đến lối sống, lẽ sống và nếp sống và đôi khi ai đó cũng có sự lẫn lộn giữa ba khái niệm này. Tuy nhiên, trên thực tế giữa các khái nhiệm có sự khác nhau. Lối sống là toàn bộ hoạt động của con người, lẽ sống là mặt ý thức của lối sống còn  nếp sống là mặt ổn định của lối sống. Nếp sống bao gồm những cách thức, những quy ước đã trở thành thói quen trong sản xuất, trong sinh hoạt, trong tổ chức đời sống xã hội. Nếp sống làm cho đời sống được ổn định, còn lẽ sống dẫn dắt lối sống ấy.

3. Bây giờ bàn đến “ảnh hưởng của  văn hoá phương Đông” trong nếp sống người Việt

Có thể chia sẻ với quan điểm của cố Giáo sư Sử học Trần Quốc Vượng khi ông cho rằng “Việt Nam vừa thuộc context Đông Nam á, vừa thuộc context Đông á”. Đất nước ta nằm đúng trong khu vực này cả về mặt địa lý lẫn về mặt không gian văn hoá cho nên ảnh hưởng văn hoá của Đông á và Đông Nam á đến Việt Nam là rất lớn, được thẩm thấu và thấm đậm trong nếp sống của người Việt chúng ta, tức trong các cách thức và quy ước đã hoàn toàn quen thuộc đối với người Việt Nam, từ sản xuất, sinh hoạt đến tổ chức đời sống xã hội. Là cư dân của vùng văn minh lúa nước nên môi trường nước đã tác động mạnh và hình thành các dạng thức văn hoá sông nước trong cư dân Việt Nam, tạo nên tính cách can đảm, linh hoạt, mềm dẻo, dễ thích ứng và dễ xử lý tình huống. Tính cộng đồng cố kết (điển hình là làng Việt Nam) được nhấn mạnh trong quá trình lao động sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước từ bao đời nay. Trọng kinh nghiệm, tuổi tác là nét đặc trưng của văn minh lúa nước và  văn hoá phương Đông cũng được phản chiếu trong các giá trị đạo đức truyền thống của con người ViệtNam.

Chịu ảnh hưởng mô hình Nho giáo của Trung Hoa, hình thức tổ chức nhà nước trung ương tập quyền gần như là xu hướng chủ đạo trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, cũng có thể nhận thấy rằng sự cố kết của cộng đồng và sự đề cao chính quyền trung ương tập quyền như vậy cũng làm cho tính chất tư hữu, cá thể, cá nhân kém phát triển hơn so với các khu vực khác.

Bên cạnh đó, cũng do ảnh hưởng của Nho giáo nên quy phạm đạo đức chuẩn mực được cho là sự tôn trọng khuôn phép, tôn ti trật tự, lễ độ, đề cao thi cử. Nhìn chung, Nho giáo ảnh hưởng mạnh và chi phối cách tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội, giáo dục thi cử ở Việt Nam cho nên cũng ảnh hưởng và chi phối cả chính trị, học thuật, tác động đến luân lý, đạo đức xã hội. Chẳng hạn, chế độ gia tộc ở Việt Nam mang đậm nét của Nho giáo Trung Hoa. Gia đình Việt Nam, nhất là ở miền Bắc, có truyền thống duy trì gia đình bằng sự kế thừa dòng họ thông qua người con trai trưởng. Con trai trưởng được kế thừa gia phả, quyền kế tự và thờ cúng. Trước đây, quyền được kế tự, được thờ cúng tổ tiên được coi trọng hơn cả tài sản bởi ý nghĩa thiêng liêng của nó là sợi dây kết nối giữa tổ tiên và con cháu. Có thể nói, thờ cúng tổ tiên vừa là tín ngưỡng, đạo lý vừa là điểm tựa tinh thần, đáp ứng nhu cầu tâm lý của người Việt Nam.

Nếp sống của người Việt còn chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo. Phật giáo ở một mức độ nhất định cũng đã tạo nên không gian cho nghệ thuật ở ViệtNam. Những ngôi chùa cùng với nghệ thuật điêu khắc, nghệ thuật hội hoạ được thể hiện tại đó khiến cho chùa chiền trở thành nơi vãn cảnh của du khách. Nhiều người Việt đi lễ chùa không phải vì họ là phật tử mà đơn giản vì người ta tìm thấy ở đó một sự thanh thản, một sự vỗ về và yên ủi, một sự động viên tinh thần. ảnh hưởng của Phật giáo còn in dấu trong nhiều lễ hội nông nghiệp như lễ xuống đồng, hội mùa, hội đua thuyền...

Chịu ảnh hưởng của Đạo giáo cho đến nay vẫn có rất nhiều người Việt Nam chú trọng đến lễ bái, cầu xin tại các phủ, các đền..., chú trọng đến xem hướng khi xây cất nhà cửa, xem ngày khi muốn thực hiện một công việc quan trọng như hiếu, hỷ, đi xa, thay đổi chỗ ở...
Có thể nói Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo và đa tín ngưỡng. Người ViệtNam thờ nhiều thần, ở một người cùng một lúc có thể chấp nhận niềm tin và sự sùng kính vào nhiều vị thần. Người ta có thể đến Văn Miếu thắp hương cho Khổng Tử, rồi đến chùa cầu khấn Bồ Tát, Phật tổ Như Lai, về làng thắp hương thờ Thành Hoàng, đến Phủ cầu xin lộc Thánh rồi về nhà thờ cúng ông bà tổ tiên. Những nét văn hoá phương Đông và nét văn hoá Việt nhiều khi hoà trộn với nhau để rồi tạo thành một bản sắc đặc trưng của Việt Nam như vậy đấy.

Trong nếp sinh hoạt hàng ngày người Việt thích ăn cơm, ăn rau, thích đồ ăn tươi sống và đồ ăn có nhiều hương liệu; thích mặc đồ nhẹ, thoáng mát; thích ở theo kiểu quần tụ nhiều thế hệ. Trong quy phạm đạo đức người Việt trọng tình hơn trọng lý, coi trọng gia đình và quan hệ cộng đồng, trọng kinh nghiệm và tuổi tác.

Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay nếp sống của người Việt cũng đang có nhiều thay đổi. Văn hoá của Việt Nam cũng đang chịu những xung kính của làn sóng toàn cầu hoá, của sự xâm nhập văn hoá từ bên ngoài. Chúng ta không thể bảo thủ giữ hết tất cả mọi thứ, song thiết nghĩ những nét hay nét đẹp trong văn hoá Việt Nam nói chung và trong nếp sống của người Việt nói riêng cần phải được duy trì và gìn giữ bởi văn hoá của mỗi dân tộc luôn là nền tảng quan trọng để duy trì sự ổn định của xã hội và nó góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước.



Thứ Hai, 23 tháng 7, 2012

Vài suy nghĩ về văn minh Phương Đông


Vài suy nghĩ về văn minh Phương Đông


Ngày nay, Phương Đông quả thật cách Phương Tây quá xa về trình độ, đặc biệt nếu xét về khoa học kỹ thuật và kinh tế thì khoảng cách đó càng kéo dài. Khoảng cách đó rất khó để Phương Đông “đuổi kịp” trong thời gian tới. Đó là sự thật! Và nhiều người nhìn thấy!
Nhưng Phương Đông với những đặc trưng của nó, đã và đang sáng tạo ra những thành tựu mà Phương Tây sẽ phải cúi đầu. Thâm trầm, sâu lắng và không chạy đua ồn ào nhưng Phương Đông vẫn đang ngày càng tiến tới những giá trị đích thực của cuộc sống này…
Tác giả không viết bài tiểu luận này với mục đích ngợi ca, hay biện minh cho sự “chậm tiến” của văn minh Phương Đông hiện nay, nhưng bằng những suy nghĩ của mình tác giả muốn thử tìm những lý do đã làm cho Phương Đông bị “khựng” lại trên bước đường đi tới của nền văn minh. Và phải chăng, khi đưa ra những nhận định về một đối tượng nào đó, trước hết phải hiểu nó và nhìn nó bằng con mắt và phương hướng mà nó đã chọn, đã đi? Ở đây là nhìn Phương Đông với chính cách nhìn của Phương Đông, về vũ trụ, thế giới và về cuộc sống. Từ đó xác định một cách nhìn nhận khách quan về Phương Đông và văn minh Phương Đông.
Tiểu luận đề cập đến văn minh Phương Đông và sự phát triển của nó, song nói đến văn minh Phương Đông không thể không đặt nó trong mối tương quan với văn minh Phương Tây. Nếu chỉ nhìn văn minh Phương Đông với riêng nó sẽ thiếu tính khách quan, do đó trong bài viết của mình tác giả cố gắng đặt Phương Đông trong sự liên hệ với Phương Tây. Tuy nhiên do những hiểu biết có phần hạn chế về văn minh Phương Tây và trong khuôn khổ của một tiểu luận, tác giả chỉ xin đề cập đến nền văn minh này ở một vài điểm.
Ngày nay, văn minh Phương Đông được nhìn nhận là kém phát triển hơn Phương Tây. Người ta xem Phương Đông đã trải qua một quá trình “ngủ mê”, để đến khi tiếp xúc với Phương Tây mới “bừng tỉnh”… Sự thật có phải như vậy? “Ngủ mê” đồng nghĩa với “trì trệ”! Phương Đông đã trì trệ và kém phát triển?! Phương Đông không “trì trệ”! Bài viết này sẽ cố gắng tìm hiểu một nền văn minh Phương Đông từng chói sáng.  Và thử đi tìm hiểu những lý do Phương Đông không tiếp tục “đi lên” theo đà phát triển mà “khựng” lại. Phải chăng vì Phương Đông không thể tiếp tục phát triển hay vì một lý do nào khác, từ trong nhận thức và tư tưởng của người Phương Đông? Và phải chăng cái mà Phương Tây cho là “phát triển”, “thành tựu”… Người Phương Đông cũng cùng chung một suy nghĩ?! Viết bài này, tác giả chỉ mong muốn tìm hiểu trong văn hóa, quan điểm của người Phương Đông, những vấn đề về phát triển, tri thức, khoa học được nhìn nhận như thế nào.

1. Có một nền văn minh Phương Đông phát triển:
          Phương Đông có một nền văn minh phát triển từ rất sớm, với những thành tựu tiêu biểu. Những thành tựu đó có vai trò to lớn đối với đời sống xã hội Phương Đông nói riêng và đối với toàn nhân loại nói chung. 
           Trung Quốc và Ấn Độ được xem là hai nền văn minh tiêu biểu của Phương Đông, ngoài ra còn các nền văn minh khác như Lưỡng Hà, Ai Cập, và có thể kể thêm Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc…
          Những thành tựu của Phương Đông xuất hiện sớm trên nhiều lĩnh vực. Bao gồm: chữ viết (5.000 năm trước công nguyên), trình độ tổ chức xã hội, pháp luật, khoa học (toán học), văn hóa nghệ thuật, tư tưởng, tôn giáo, những phát minh lớn…
Chỉ kể riêng toán học với việc sáng tạo ra hệ thống số đếm từ 0 đến 10, việc phát hiện ra số Pi (p = 3,1416), tính được hệ số góc của tam giác… đã có thể thấy được trình độ phát triển của văn minh Phương Đông. Đặc biệt co số không (0) của người Ấn độ sáng tạo ra đã hoàn thiện được hệ thống số đếm vô cùng tiện lợi cho nhân loại, con số không là biểu tượng cho tư duy trừu tượng ở mức độ cao của nền văn minh Ấn Độ.
          Bên cạnh đó, y học có thể được xem là một trong những thành tựu nổi bật của nền văn minh Phương Đông. Thuật ướp xác của người Ai Cập cổ đại, ý niệm đi tìm thuốc trường sinh của người trung Quốc, sự luyện tập và nghiên cứu mối quan hệ giữa các bộ phận trong cơ thể người với thế giới bên ngoài của các trường phái triết học Ấn Độ, Trung Quốc đã mang lại những hiểu biết về cơ thể người từ rất sớm, người Phương Đông cổ đại đã có thể nhận biết và chữa được rất nhiều bệnh, đặc biệt là những hiểu biết về thuật giải phẫu.
          Trong khi đó, nền văn minh Trung Quốc đã cung cấp cho nhân loại đến bốn phát minh lớn, đó là thuật làm giấy, nghề in, la bàn (cái “tư nam”) và thuốc súng, ngoài ra còn các phát minh khác từ rất sớm như: bánh lái, dùng thực vật thăm dò mỏ (khoảng năm 380 – trong khi người Anh phát hiện ra năm 1600!), khai thác mỏ đồng, dầu mỏ, khí đốt và than đá, kính tiềm vọng, máy ghi địa chấn, lưỡi cưa…[1].
Không chỉ là một nền văn minh phát triển từ sớm, nền văn minh Phương Đông còn là nơi cung cấp cho nhân loại những thành tựu to lớn của mình, là bệ phóng cho văn minh các nơi khác phát triển. Điều này đã được lịch sử chứng minh. Thông qua con đường tơ lụa, người Ả Rập đã học tập văn minh Phương Đông rồi mang truyền sang các nước Phương Tây.
Tất cả những thành tựu được kể trên, và những thành tựu chưa được kể đến của Phương Đông được người Phương Tây tiếp thu, cải biến, ứng dụng và ngày một phát triển dần lên, vượt qua cả người “thầy” của mình. Chỉ riêng thành tựu về con số không của Ấn độ, Will Durant - một học giả chuyên nghiên cứu về văn minh thế giới - đã nhận xét: “chính nhờ Ấn Độ mà chúng ta học được cái cách tài tình chỉ dùng có mười chữ mà viết được đủ các số, mỗi chữ vừa có một trị số tuyệt đối, vừa có một trị số tùy theo vị trí của nó; ý đó tế nhị mà quan trọng, ngày nay chúng ta cho là giản dị quá nên không cảm được công lao to lớn của người Ấn. Nhưng chính nhờ nó đơn giản mà làm toán mới hóa ra cực kỳ dễ dàng, và hệ thống số học đáng được kể là sáng kiến ích lợi nhất. Có nghĩ rằng hai bậc thiên tài bậc nhất thời thượng cổ, Archimède và Apollonius mà cũng không tìm ra được hệ thống đó thì mới nhận định nổi sáng kiến của người Ấn tài tình ra sao”[2].
Chỉ chừng đó thôi cũng đủ thấy rằng Phương Đông đã có một nền văn minh phát triển cao và sớm, từ đó truyền ssang Phương Tây. Và cũng có thể nói, ở một chừng mực nào đó, người Phương Tây nợ người Phương Đông với những thành tựu mà họ đã học tập, ứng dụng của người Phương Đông để xây dựng nên nền văn minh rực rỡ của mình.
Nhưng, lẽ ra nền văn minh Phương Đông phải tiếp tục đi lên, tiếp tục phát triển thì nó lại “đột ngột khựng lại” trong một thời gian dài. Về sau lại trở nên lạc hậu hơn so với sự tiến bộ của Phương Tây, nhất là từ thời kỳ Phục hưng trở về sau.
Cái gì đã làm cho nền văn minh từng rực sáng đó khựng lại, không tiến nhanh được? Phải chăng có một lý do nào đó nằm trong chính những nhận thức, quan điểm của người Phương Đông? Hệ thống tư tưởng, triết học, tôn giáo vốn cũng là những thành tựu lớn của người Phương Đông cổ đại, và trung đại. Là một thành tựu nhưng chính những yếu tố này khi tác động trở lại tư duy, hành động của con người Phương Đông thì lại định hướng nền văn minh này đi theo một hướng riêng của nó.

2. Một vài quan điểm, tư tưởng của văn minh Phương Đông tác động đến sự phát triển của nền văn minh:
Như đã nói ở trên, tư tưởng, triết học, những thành tựu đỉnh cao của Phương Đông đã quay lại trở thành cái hướng dẫn người Phương Đông đi theo con đường riêng của mình. Những tư tưởng của người Phương Đông rất đa dạng, phong phú, song có thể khái quát thành các tư tưởng chủ yếu sau:
Sống hài hòa với thiên nhiên:
Trong tâm thức của người Phương Đông, con người không chọn cách chinh phục thiên nhiên, tác động vào thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên buộc thiên nhiên phục vụ mình mà chọn cách sống hài hòa với thiên nhiên, dựa vào thiên nhiên, vào quy luật của tạo hóa để sống và hoạt động.  
Ngay trong kinh Veda, người ta đã thấy có khái niệm “Nghiệp”, “Luật nhân quả” mà người ta cũng coi “tự nhiên” và tất cả những điều thuộc về tự nhiên (ngoài con người) đều “bình đẳng” và “luân hồi”… Hành vi tốt thì sẽ được đền đáp, hành vi xấu thì sẽ bị trừng trị, nhưng không phải ở kiếp đang sống mà ở kiếp sau.  Do đó Phương Đông không có xu hướng bắt tự nhiên phục vụ con người.
V.I. Xamokhvalova nói: “các học thuyết triết học Phương Đông không bao giờ đặt con người vào trung tâm của thế giới, mà chỉ coi con người như một yếu tố của thế giới, một bộ phận của giới tự nhiên, một trình độ của cấu trúc thế giới. Vì thế ở Phương Đông không có cơ sở cho sự phát triển của quan niệm lấy con người làm trung tâm, cũng như không có mảnh đất thích hợp cho nhân học triết học xuất hiện. Con người ở đấy tham dự một cách tự nhiên vào đời sống của thế giới, vào nhịp điệu của tự nhiên, còn bản thân giới tự nhiên thì đã hoàn thiện và con người phải tìm cách thích nghi chứ không được chống lại”[3]. 
          Chính tư tưởng này đã chi phối tư duy và hành động của Phương Đông, cái mà người Phương Đông nỗ lực là nỗ lực để “hiểu” thiên nhiên, hòa mình vào thiên nhiên để con người và thiên nhiên hài hòa làm một, trở thành một tổng thế trong vũ trụ. Do đó, họ không chú trọng việc nghiên cứu để chinh phục, cải tạo, làm mới thiên nhiên, và như vậy, thật khó để khoa học kỹ thuật có cơ hội phát triển trong điều kiện quan điểm của người Phương Đông như vậy.
          Người Phương Đông “dửng dưng” với phát triển:
Với những cơ sở và điều kiện cho sự phát triển, cộng với nột nền văn minh từ rất sớm, Phương Đông hoàn toàn có thể đẩy nhanh sự phát triển của mình, nhưng dường như có một thái độ “dửng dưng” của Phương Đông với sự phát triển. Sự “dửng dưng” này của Phương Đông, buộc ta phải suy nghĩ lại. Người Phương Đông “dửng dưng” với sự phát triển vì có quan điểm cho rằng phát triển cũng chỉ là bề ngoài của vũ trụ bao la, của trời đất rộng lớn, có phát triển, có đạt đến những thành tựu to lớn như thế nào thì cũng chỉ là hiểu được một mặt nào đó mà thôi.
Người Phương Đông cho rằng sự bao la của trời đất, vũ trụ không thể biết mà chỉ có thể “ngộ”, không thể tác động mà chỉ có thể im lặng để cho cái hiển nhiên lộ ra, không thể nói được. “Trời có nói chăng? Mà bốn mùa cứ thế xoay vần, trăm vật trong vũ trụ cứ sanh hóa mãi. Mà trời có nói chăng?”[4].
Đạo Phật – một tôn giáo có ảnh hưởng rộng lớn đến Phương Đông cho rằng cuộc đời chỉ là bể khổ, và nguồn gốc của nó là sự “vọng động” của trạng thái tĩnh tại, của tâm hồn, là u mê chạy theo những cái không có thực, chạy theo dục vọng… Thuyết “Tứ diệu đế” của đạo Phật cho rằng tất cả những cám dỗ vật chất, những hình ảnh hiện hữu về thế giới, những cảm nhận của con người chỉ là “vô thường”, “vô ngã”! Nó vốn không tồn tại và phải dứt bỏ đi để đạt đến trạng thái giải thoát. Do đó theo tư tưởng này, sự phát triển mang lại cuộc sống đầy đủ, dồi dào về vật chất, về tri thức trình độ (khoa học) không phải là cái cần đạt đến.
Trong khi đó thì tư tưởng của Lão giáo – một hệ tư tưởng có ảnh hưởng rộng lớn trong bộ phận nhân dân (và cả trí thức) ở các nước Á Đông cho rằng sự phát triển của văn minh là cội nguồn của sự suy đồi đạo đức, của rối loạn xã hội. Lão Tử cho rằng: của cải làm ra nhiều thì chỉ gây ra giành giật, giáo dục nhiều, hiểu biết nhiều chỉ gây nên lòng ham muốn và xảo trá, có lễ nghĩa là vì có suy đồi… và phát triển theo cách cải tạo, chinh phục tự nhiên là đi ngược lại với “Đạo”, đó không phải là phát triển thực chất. lão tử còn kêu gọi con người trở lại với xã hội của thời nguyên thủy…
Bài học đầu tiên mà các hiền triết giảng trong Upanishad là sự bất túc của trí tuệ! Will Durant đã cho ta biết quan điểm đó: “… Làm sao bộ óc yếu ớt này, mới tính toán một lát đã nhứt nhối, mà đòi hiểu được cái bao la cực kỳ phức tạp của vũ trụ mà nó chỉ là một phần nhỏ phù du? Không phải là trí tuệ vô ích: nó có địa vị của nó, địa vị rất khiêm tốn thật đấy và nó giúp ích ta được rất nhiều khi nó cho ta biết các sự vật và các mối liên quan. Nhưng trước cái vĩnh cửu, vô biên, hoặc trước các nguyên tố của thực thể thì nó yếu ớt, lảo đảo làm sao! Trước cái thực thể thầm lặng, nó là nòng cốt của thiên hình vạn trạng bề ngoài, và từ mọi lương tâm tỏa ra, chúng ta cảm thấy cần có một cơ quan cảm giác trí thức hoàn hảo hơn ngũ quan và lý trí của ta. “Không phải nhờ học mà hiểu được Atman (tức linh hồn thế giới), có thiên tài không đủ, học trong sách cũng không đủ… Một tu sĩ Bà là môn phải từ bỏ sự học đi mà trở lại như một em bé… đừng chạy theo từ ngữ nữa, chỉ mỏi miệng vô ích thôi”[5].
Như vậy tư duy Phương Đông gần như tước đi khả năng mày mò, tìm hiểu cặn kẽ về tự nhiên để đạt đến những trí thức hiểu biết cụ thể. Họ chỉ cho rằng cái hiểu biết lớn nhất là hiểu biết về cái bao la, cái huyền nhiệm, mà những điều đó không thể hiểu được bằng những tri thức thông thường (tri thức khoa học, trí tuệ khoa học).
Trong phần “Lễ ký” có mô tả quá trình “phát triển” của loài người. Từ chỗ Đại thống nhất, con người bước vào thời kỳ thịnh vượng vĩ đại, sau đó đến chỗ kém thịnh hơn, sau nữa chuyển sang thời kỳ loạn lạc”[6] và họ nhận thức có thể bỏ qua các giai đoạn để tiến thẳng đến Đại thống nhất.
Đạo Lão, không những không đánh giá cao kiến thức, sự thông thái của con người mà còn coi đó chẳng qua chỉ là những tài trí bề ngoài, không có ích trong việc để đạt đến sự hào hòa với vũ trụ, đạt được “Đạo” (đạo Tự nhiên). Bên cạnh đó “Thuyết tương đối” của Trang Tử cũng không xác định lớn nhỏ, đúng sai! Cái gì gọi là lớn? cái gì gọi là phát triển? So với những sự vật khác nhau tính chất và vị trí của chúng sẽ khác nhau.
Người Phương Đông đã có thái độ “dửng dưng” với sự phát triển, họ không quan tâm đến tìm hiểu giới tự nhiên như người Phương Tây đã làm, và vì thế họ rơi vào một quá trình chậm tiến so với Phương Tây.
Đối với người Phương Đông, cần phải đạt được những hiểu biết cao nhất, đạt được cái chân lý tối cao, và họ có con đường hành động riêng của mình.


3. Con đường đi tìm chân lý của Phương Đông:
Trên thực tế ở Phương Đông vẫn có những trường phái đề cao kiến thức, đề cao nhận biết từ các giác quan, đề cao lý tính, song những trường phái đó rốt cuộc không đủ sức chi phối quan niệm của người Phương Đông về vũ trụ, về thế giới và tư duy con người.
Nền văn hóa truyền thống Trung Quốc xem xã hội như một bộ phận của vũ trụ, không có ranh giới giữa tự nhiên và nhà nước. Người ta cho rằng chúng tạo thành cái vẹn toàn thống nhất và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Hành vi của con người luôn tác động trực tiếp tới vũ trụ, gây ra các hiện tượng, các biến đổi từ phía vũ trụ, từ trời và đất. Do đó, cái yêu cầu cao nhất là sự quan tâm của con người đối với tính thống nhất hài hòa, giữ vững trật tự “vốn dĩ” đã có chứ không phải tạo ra những hành động, hành vi làm thay đổi thế giới. Thực hiện những hành vi đó có thể dẫn đến những tai họa như thiên tai, bạo loạn… Đối với người Trung Hoa, là bậc quân tử chỉ chú trọng ba điều: Nhân – Nghĩa – Đức, chứ không chú trọng lợi! “Bậc quân tử làm việc cho đời, không có việc gì mà người không cố ý làm, không có việc gì người cố ý bỏ, hễ hạp nghĩa thì làm”[7].
Theo Khổng Tử, thái độ của con người đối với “quỷ thần” là “Kính nhi viễn chi”, đó cũng có thể hiểu là thái độ đối với các sự vật, hiện tượng tự nhiên mà con người thời đó không giải thích được… Như vậy là con đường đi đến chân lý của người Phương Đông không đi theo con đường tìm kiếm những hiểu biết về tự nhiên. Khổng Tử còn chủ trương trau dồi đạo đức và trật tự xã hội chứ không chủ trương cải tạo nó. Khổng Tử có nói đến giáo dục, nhưng cái giáo dục của Khổng Tử là giáo dục lòng Nhân, Nghĩa, Lễ…
Không phải là người Phương Đông không biết đến tri thức về khoa học kỹ thuật, không có khả năng tìm hiểu về giới tự nhiên! Họ chỉ không coi đó là con đường phải đi để đạt đến chân lý, hạnh phúc, người Phương Đông cho rằng “sự thức tỉnh (sự hiểu biết về thế giới) được truyền đạt một cách đặc biệt từ tâm sang tâm không cần dựa và hệ thống ngôn ngữ (hay tri thức khoa học)”[8].
Phương Đông lại còn cho rằng thế giới không bị bóp méo bới sự nhận thức của lý trí, của hiểu biết. Mà chính sự hiểu biết lý tính là cái đặc tính tách một số hiện tượng ra khỏi các hiện tượng khác rồi lại hệ thống hóa chúng, và chính lý trí tạo ra ranh giới giữa các sự vật, đối lập các sự vật hoặc các khái niệm với nhau, trong khi chúng là một sự hài hòa, thống nhất trong một cái trọn vẹn. Như vậy là theo Phương Đông bằng lý tính, bằng tư duy không thể nào hiểu thấu được sự vật hiện tượng, hiểu thấu vũ trụ bao la. Vì thế mà nhiều nhà hiến triết Trung Quốc theo đuổi cái lý tưởng không nhận thức thế giới bằng con đường lý trí mà bằng con đường “trực cảm”… Đối với người Ấn Độ thì “trong thế giới vô hạn, bất kỳ sinh thể nào cũng tìm được cho mình một vị thế và việc làm. Còn cuộc đấu tranh để giành lấy “địa vị dưới ánh hào quang của  mặt trời” là điều gì đó mang tính phản tự nhiên”[9].
Người Phương Đông cho rằng mục đích cuối cùng của cuộc sống là đi tìm phương cách “giải thoát”. Trạng thái giải thoát trong tư tưởng Phương Đông được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau và có nhiều con đường khác nhau nhưng hầu hết đều đi bằng con đường tinh thần, dùng tinh thần để đạt đến “trạng thái giải thoát”.
Kinh Katha Upanishad viết: “Atman chẳng thể nhận thức được bởi học vấn, bởi sức mạnh của trí óc. Atman chẳng thể nhận thức được bằng giác quan…”[10]. “Đạo đức kinh” thì viết: “Ngũ sắc làm cho người ta mờ mắt, ngũ âm làm cho người ta ù tai, ngũ vị làm cho người ta tê lưỡi, ruổi ngựa săn bắn làm cho người ta mê loạn, vàng bạc châu báu làm cho hành vi người ta đồi bại…”[11].
Con đường hiểu biết của người Phương Đông là vậy! Họ chấp nhận chọn con đường đi bằng trực cảm, trực giác của mình và không quan tâm đến con đường đi bằng lý tính, bằng tư duy và tri thức khoa học. Thái độ của Phương Đông như thái độ cũa Lão Tử là “vô vi”, chỉ làm những việc phù hợp với “Đạo”, không tự ý (theo ý muốn chủ quan của con người) làm gì trái với “Đạo”, trái với tự nhiên.
Và như Hoàng Ngọc Hiếu nhận xét “đạo là con đường, con đường của triết học bao giờ cũng dẫn tới đâu đó… Tới chân lý, tới cõi chí thiện, tới cõi toàn mỹ, tới miền đất hứa, tới thiên đường…, tới thượng đế. Đạo của minh triết (đạo của người Phương Đông – tác giả chú thích) không dẫn tới đâu cả… đạo là con đường ở đó… sự sống có thể sống được, mọi sự rồi thì qua được,… chỗ đi tới của đạo là ở sự đổi mới của bản thân nó”[12].
Có thể nói cả Đông Tây đều hướng đến mục đích cuối cùng là hiểu biết cuộc sống và đạt được hạnh phúc nhưng mỗi bên đi theo con đường khác nhau. Theo quan điểm của tác giả, Phương Đông đi thẳng đến mục tiêu cuối cùng thông qua con đường tinh thần, nhưng đó lại là con đường khó vì khi Phương Đông đi trực tiếp bằng con đường tinh thần, họ không có được cơ sở vật chất để làm điều kiện thuận lợi… Phương Tây thông qua con đường vật chất để tìm đến mục tiêu tinh thần, con đường dài nhưng lại là tuần tự, dễ đi và lịch sử cho ta thấy dường như Phương Tây đang đi nhanh hơn Phương Đông. Phương Tây đạt được những thành tựu cao về mặt vật chất, lấy đó làm cơ sở và đang đi đến những mục tiêu về tinh thần.
Nói như vậy có nghĩa là lúc đầu cả Đông và Tây đều cùng chung mục tiêu cuối cùng: những giá trị về tinh thần, thuộc đời sống tinh thần. Nhưng câu hỏi đặt ra là làm thế nào để đạt được nó? Và Đông Tây tìm thấy những cách đi riêng, chia làm hai con đường…
Điều đáng lưu ý là, trong hiện tại, dường như Phương Tây đang về đích trước. Nhưng mặt khác cũng có thể thấy rằng Phương Đông đã và đang đạt được những thành tựu, những giá trị đích thực cho cuộc sống của con người. Mặt khác, con đường Phương Đông khó đi nhưng Phương Tây càng đi vào con đường vật chất thì càng bị cuốn sâu vào trong đó và vô hình trung vật chất lại trở thành mục tiêu hướng đến cuối cùng của một số người… Đó là điều mà văn minh Phương Tây phải nhìn về Phương Đông mà suy ngẫm.

4. Nhìn Phương Đông bằng con mắt của Phương Đông!
           Xét về khía cạnh kinh tế và khoa học kỹ thuật, văn minh Phương Đông còn thua xa Phương Tây một bước dài. Nhưng xem xét văn minh Phương Đông không chỉ xem xét dưới góc nhìn của Phương Tây mà phải nhìn Phương Đông bằng chính “con mắt” của nó, có như vậy mới hiểu được Phương Đông và nền văn minh Phương Đông một cách thực sự.
Nói đến một nền văn minh, chúng ta phải xem xét nền văn minh đó trong mối tương quan với những điều kiện, hoàn cảnh và văn hóa, tâm lý của cư dân nền văn minh đó. Một nền văn minh luôn ra đời dựa trên những điều kiện về tự nhiên, kinh tế xã hội và đặc trưng văn hóa tâm lý của một cộng đồng, một dân tộc. Và nghiên cứu văn minh Phương Đông, điều đó là rất cần thiết.
Đứng ngoài Phương Đông đôi khi cũng có thể nhìn Phương Đông khách quan hơn, nhưng có những điều quả thực, chỉ có người trong cuộc mới là người cảm nhận sâu sắc nhất. Từ trước tới giờ dường như chúng ta dùng tất cả mọi khái niệm của Phương Tây để đưa vào Phương Đông, chúng ta có cái kiểu tư duy theo lối mòn của Phương Tây mà ta không nhận ra. Tư duy đó đã bỏ qua những “khái niệm” mang tính Phương Đông. Ví dụ: nói đến hạnh phúc, Phương Tây nói đến mục tiêu đạt được, có sự chiếm lấy và chinh phục còn Phương Đông có một quan niệm khác: người Trung Quốc, chữ “hạnh phúc” theo Hán tự có nghĩa là cái may mắn, sự phúc lành con người đạt được, còn đối với phần đông tôn giáo ở Ấn Độ, hạnh phúc là thoát khỏi mọi dục vọng.
Như vậy, phải chăng phải dùng Phương Tây để đo khoảng cách giữa Phương Tây và Phương Đông, nhưng sau đó chúng ta lại phải dùng Phương Đông để đo độ sai lệch, cái quen biết trong khái niệm, quan niệm Phương Tây, từ đó phân tích những cái xa – gần của hai bên để hiểu biết về nhau hơn.
          So sánh văn minh Đông Tây, sẽ dễ dàng thấy được những điểm thua của Phương Đông đối với Phương Tây như trình độ kinh tế, sản xuất, khoa học kỹ thuật… Song không phải cái gì Phương Tây cũng cao hơn Phương Đông. Khi đụng đến những vấn đề triết học, tôn giáo, văn học nghệ thuật… chúng ta dễ dàng gặp bối rối và thật khó để có câu trả lời. Đồng ý rằng Phương Tây có nền văn hóa văn minh mở hơn, có tiếp thu văn minh lẫn nhau và tiếp thu Phương Đông nên có những phát triển hơn, nhưng không phải mọi thứ đều như vậy. Liệu khi so sánh tư tưởng của Khổng Tử, Lão Tử, Thích ca với các nhà tư tưởng bên trời Tây, ai dám nói rằng tư tưởng Phương Đông thấp hơn tư tưởng Phương Tây, cùng với đó là những trước tác văn học, những công trình kiến trúc đồ sộ, nghệ thuật hội họa… Và có lẽ cũng nên chú ý rằng, trong khoảng thời gian các nền văn minh như Ấn Độ, Trung Hoa đang phát triển rực rỡ thỉ văn minh Phương Tây lại chìm vào một giấc ngủ dài. Sự phát triển nhanh chậm, hơn kém dường như không phải là một tiêu chí để so sánh giá trị của các nền văn minh khác nhau.
Đối với Phương Đông, người ta quan tâm nhiều đến cái được và cái mất trong sự phát triển. Người Phương Tây chấp nhận trả giá cho phát triển, Phương Tây thường đưa một tư tưởng ra trước, bỏ qua những tư tưởng khác, lấy đó là cơ sở để so sánh, nhìn nhận, hoạt động mà phát triển mãi lên, sau mới nhìn lại. Còn Phương Đông ngay từ lúc xuất phát điểm đã cố gắng dung hòa mọi cách nhìn, không đưa ra cái nào trước, không ưu tiên xuất phát điểm, không có chỗ bắt đầu, không tuyệt đối hóa một tư tưởng nào, mọi kiểu tư duy đều được mở ra như nhau, tiếp cận như nhau. Xét một cách công bằng, tư duy Phương Đông như vậy khách quan hơn tư duy Phương Tây. Song cái thành quả mà nó đạt được lại thấp hơn Phương Tây. Nhưng điều đó đối với Phương Đông lại không quan trọng, đối với Phương Đông cái “vô” là cái quan trọng nhất, là cái không thể nói, cái trống không huyền bí, dẫu có “có” rồi cũng trở về vô. Do đó đâu cần những sự phát triển và thành tựu nhứt thời? Vì cái cao nhất cần đạt đến là sự hiểu biết thực sự về thế giới. Ở điểm này triết học (minh triết) Phương Đông đã đặt ra cho triết học Phương Tây những câu hỏi đáng suy nghẫm. Đó là sự được – mất, được rồi lại trở về “vô”… Nhà nghiên cứu Michel Bittol viết về sự đảo lộn chuyển động cho cuộc đi vòng của Francois Julien (bằng một công trình được F. Julien công bố) gây ra cho triết học: “nhìn từ cái nơi xa ấy (từ minh triết Phương Đông) toàn bộ sự nghiệp của triết học, và của khoa học là cái nối dài của nó, hóa ra chỉ đơn giản là một trường hợp đặc biệt. Hai thiên niên kỷ rưỡi nỗ lực triển khai toàn bộ các kỹ năng tư duy, rồi đạt đến những quan niệm được mọi người công nhận và có thể dùng được cho lợi ích của mỗi người, hóa ra đã đưa đến một cái nhìn cục bộ về thế giới”[13].
          Minh triết không thể chứng minh thuyết phục như tri thức triết học, khoa học, cũng không có sự linh diệu như thần khải của tín điều tôn giáo. Nhưng minh triết theo Phương Đông lại là cái hiểu biết toàn cục về thế giới, trong khi đó sự hiểu biết của Phương Tây chỉ là sự hiểu biết đơn lẻ…
          Ngay từ thế kỷ II TCN, Patangiali đã viết kinh Yoga, trình bày phương pháp và cũng là phương hướng của người tập Yoga với tám bậc tháng tìm kiếm linh hồn. Bậc thứ nhất – iama – đòi hỏi phải tuân thủ mọi điều răn và tiết chế; bậc thứ hai – niama - tẩy uế bên trong và bên ngoài thể xác và linh hồn nhờ kỷ luật tự giác; bậc thứ ba – axana – đảm bảo sức khỏe thể chất nhờ các bài thể dục; bậc bốn – praiana – kiểm soát hơi thở; bậc năm – pratiakhara – điều khiển cảm xúc; bậc sáu – tập trung và tĩnh tại; bậc bảy – dkhana – thiền và bậc tám – xamatkhi – giao hòa với linh hồn vũ trụ[14]Như vậy cái mà con người Phương Đông cần đạt đến là sự giao hòa với vụ trụ chứ không phải những thành tựu khoa học hay sự đầy đủ về vật chất.
          Chương 16 Đạo đức kinh chép: “hết sức giữ được cực hư, cực tĩnh xem vạn vật sinh trưởng ta thấy được quy luật phản phục (vạn vật từ vô mà sinh ra rồi trở về vô).
Vạn vật phồn thịnh đều trở về căn nguyên của chúng (tức đạo). Trở về căn nguyên thì tĩnh, (tĩnh là bản tính của mọi vật, cho nên) trở về căn nguyên gọi là “trở về mệnh”. Trở về mệnh là luật bất biến (thường) của vật. Biết luật bất biến thì sáng suốt, không biết luật bất biến thì vọng động mà gây họa.
Biết luật bất biến thì bao dung, bao dung thì công bình (vô tư), công bình thì bao khắp, bao khắp thì phù hợp với tự nhiên, phù hợp với tự nhiên thì phù hợp với đạo, hợp với đạo thì vĩnh cửu, suốt đời không nguy”[15].
Chương 56 chép: “Người biết (đạo) thì không nói (về đạo), người nói là người không biết. Ngăn hết các lối, đóng hết các cửa, không để lột sự tinh thuệ ra, gỡ những rối loạn, che bớt ánh sáng, hỏa đồng với trần tục, như vậy gọi là huyền đồng (hòa đồng với vạn vật một cách hoàn toàn)[16].
Người Phương Đông quan trọng là mối dây liên hệ giữa các dự vật, hiện tượng, con người trở thành trung tâm liên kết, tìm sự hài hòa với tự nhiên chứ không phải hiểu biết cụ thể, thành tựu cụ thể.
Người Phương Đông cũng phân biệt các trình độ hiểu biết khác nhau. Kinh Upanishad phân chia sự nhận thức của con người thành hai trình độ hiểu biết: trình độ nhận thức ở bậc hạ trí và trình độ nhận thức ở bậ thượng trí hay “minh giác siêu việt”. Hiểu biết hạ trí bao gồm những hiểu biết về các tri thức như khoa học thực nghiệm, ngữ pháp, ngữ âm, luật học, phép tụng, niệm, nghi lễ, thiên văn học, toán học… và cả tứ “Veda” đều thuộc nhận thức ở bậc hạ trí. Mà nhận thức bậc hạ trí chỉ có thể nhìn thấy bề ngoài của sự vật hiện tượng, thấy được cái cụ thể, hữu hình, thường biến mà không thấy được bản chất tối cao của vũ trụ và không có ích cho mục đích cuối cùng. Chỉ có hiểu biết ở bậc thượng trí, tức là trình độ nhận biết vượt qua tất cả thế giới sự vật, hiện tượng, hữu hình. Hữu hạn, thường biến để nhận thức một thực tại chân thật, tuyệt đối duy nhất và bất diệt. Và một khi hiểu biết ở bậc thượng trí rồi, con người có thể nhận thức được thực tướng của vạn vật, từ đó đạt đến sự thông tuệ và đi đến cứu cánh cuối cùng, đó là sự giải thoát. Chính vì thế ngạn ngữ Ấn Độ có câu: “Hiểu biết thực sự là hiểu biết có thể đưa ta tới tự do”, và người Ấn cũng đặt câu hỏi “cái gì là thực tại đầu tiên tối cao duy nhất, là căn nguyên cảu tất cả mà khi nhận thức được nó, người ta sẽ biết được cả vũ trụ?” Trả lời: đó là tinh thần vũ trụ tối cao – Brahman (cũng chính là Atman trong mỗi người – hơi thở, linh hồn).
Môn phái Advaita (thuộc trường phái triết học chính thống của Ấn Độ) cho rằng: “những tư tưởng coi các sự vật hiện tượng có tính đa dạng, muôn hình muôn bẻ của vũ trụ tốtn tại thực và vĩnh viễn đó chỉ là kết qủa của sự không hiểu biết, không thấu suất được bản chất sâu xa của thế giới. Đó là trình độ nhận thức của bậc hạ trí.
Trên thực tế, theo họ, trừ Thượng đế hay Brahman ra, tất cả đều là ảo giác thuần túy mà thôi. Thế giới ảo ảnh này tuy có thật nhưng luôn luôn biến đổi, phù du, vụt mất, vụt còn, chúng chỉ là các dạng biến tướng của một thực thể duy nhất tối cao nhất bất biến Brahman.
Những phương pháp nhận thức mà Advaita nêu lên là: trực giác, khải thị, kết luận và cảm giác. Trong đó phưong pháp nhận thức chủ yếu là trực giác và khải thị. Còn kết luận và cảm giác chỉ là thứ yếu, chỉ nhận thức được thế giới sự vật, hiện tượng. Mục đích của những nỗ lực cá nhân là làm sao hiểu được rằng: đằng sau tất cả những cái muôn màu muôn vẻ là một Đấng duy nhất, tối cao và tồn tại thực sự, vĩnh viễn. Cuộc sống chân chính và chân lý tối cao của con người là phải cố gắng đặt tới sự đồng nhất giữa linh hồng và tinh thần vũ trụ tối cao, giải thoát linh hồn khỏi thế giới ảo ảnh, thoát khỏi nghiệp báo và luân hồi”[17].
Trong khi đó phái Visista Advaita (thuộc trường phái triết học chính thống của Ấn Độ) cũng có quan niệm tương tự: “Mục đích cao cả của những nỗ lực cá nhân là phải nhận ra bản chất của linh hồn mình, để giải thoát linh hồn khỏi sự ràng buộc của thực tại vật chất, của những ham muốn nhục dục thể xác con người gây nên, để đưa con người trở về với linh hồn vũ trụ tối cao (và duy nhất)”17.
Rõ ràng Phương Đông có một cách nhìn riêng, một hệ thống quan điểm riêng về sự phát triển, về những mcụ tiêu cần đạt đến và về những bậc thang của nhận thức. Tất cả những điều đó chúng ta không thể đưa những phạm trù, khái niệm và hệ quy chiếu của Phương Tây để nhìn nhận Phương Đông. Phương Đông cần được nhìn nhận một cách công tâm hơn, theo đúng nét văn hóa, quan điểm và tư duy của Phương Đông.

          5. Nhìn nhận như thế nào cho đúng?
Như đã nói từ đầu, tác giả không viết bài này để biện minh cho sự chậm tiến của văn minh Phương Đông hay ngợi ca nhân sinh quan của họ. Tác giả cũng Không phủ nhận sự trì trệ của văn minh Phương Đông trong quá khứ gần đây. Tuy nhiên rõ ràng văn minh Phương Đông không phải là một nền văn minh không thể phát triển được, đó không phải là một nền văn minh bất lực trong quá trình đi lên của mình. Nền văn minh đó có những thành tựu to lớn, có những lĩnh vực đạt được đỉnh cao, những giá trị vật chất và tinh thần cho cả thế giới. Song nền văn minh đó đã bị “khựng” lại vì sự “chủ động” trong văn hóa và tư tưởng của chính bản thân chủ nhân của nó.
Rudyard Kipling từng viết: “ôi, Phương Đông là Phương Đông, Phương Tây là Phương Tây và chẳng bao giờ chúng gặp được nhau, cho đến ngày cả hai ngồi vào Chiếc ghế phán xét cuối cùng của Thượng đế”[18]. Tác giả R. Kipling muốn nói đến một sự xa cách của văn minh Phương Đông và Phương Tây và cho rằng hai nền văn mình này không thể gặp được nhau, không có điểm chung. Văn minh Phương Đông và văn minh đúng là có nhiều sự khác biệt, song chúng đều có những điểm chung và cùng hướng đến mục tiêu cuối cùng vì sự phát triển của cả nhân loại. Do đó chúng có sự gần gũi và có thể học tập lẫn nhau. 
          Xét đến cùng, chúng ta có thể xác định một nền văn minh theo các tiêu chí sau:
Từ khái niệm văn minh – như là trạng thái phát triển cao của văn hóa vật chất và tinh thần, có thể xác định nội dung của văn minh bao gồm:
          - Trình độ chinh phục thiên nhiên và trình độ sản xuất: những phát minh, sáng tạo của con người trong quá trình lao động (công cụ, kỹ thuật, phương thức sản xuất...). Về căn bản, đó là văn minh vật chất.
- Trình độ quản lý xã hội: thể chế chính trị, tổ chức nhà nước, pháp luật.
- Thành tựu văn hóa tinh thần: chữ viết, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, triết học, tri thức về tự nhiên...
          Với ba tiêu chí nêu trên, rõ ràng Phương Đông chỉ đang chậm tiến về mặt chinh phục tự nhiên và trình độ sản xuất, cùng với đó là tri thức về tự nhiên. Còn những mặt khác nếu so sánh hai nền văn minh Đông Tây, thật khó để phân biệt trình độ giữa chúng, thậm chí có nhiều mặt Phương Đông vượt trội Phương Tây, và nhất là khi Phương Tây đang phát triển nhanh chóng, ở trên nhiều mặt không thể kiểm soát được những mặt trái, những cái “mất” của mình. Phương Tây gần như đang học tư duy và hành động một cách hợp lý, song không học nổi cách sống chỉnh thể trong sự giao tiếp với tự nhiên và vũ trụ. Hơn lúc nào hết, Phương Tây cần nhìn lại văn minh Phương Đông để tìm hiểu và học tập.
          Còn văn minh Phương Đông, thật tiếc là những điểm chậm tiến của nó hiện nay lại là động lực cho sự phát triển (như tri thức khoa học kỹ thuật). Đành rằng Phương Đông có quan điểm riêng của mình về sự phát triển song trong điều kiện hiện nay, khi mà trên thế giới, nhất là ở Phương Đông con người đang đối mặt với nhiều khó khăn về cuộc sống vật chất phía trước thì Phương Đông cần phải thay đổi. và như đã nhận định ở trên, phải chăng đi từ con đường vật chất để đến mục đích tinh thần sẽ dễ dàng hơn, mang lại kết quả hơn so với cách đi trực tiếp bằng con đường tinh thần mà Phương Đông đã đi trong lịch sử!
Phương Đông thay đổi đang cần thay đổi để phát triển hợp lý và cần giữ lại những hạt nhân tư tưởng của mình để nhanh chóng tiến lên, đẩy cao nền văn minh và sớm đạt được những mục tiêu mà bản thân nền văn minh này hướng đến.

 Tài liệu tham khảo: 
1. Xin xem thêm Võ Mai Bạch Tuyết, 2008, “Giới thiệu một số phát minh của Trung Quốc thời cổ đại”,Kỷ yếu Hội thảo khoa học Những vấn đề về nghiên cứu và giảng dạy lịch sử văn minh thế giới, Khoa Lịch sử - ĐHKHXH&NV – ĐHQG TP Hồ Chí Minh, trang 140 – 145.
2. Will Durant, 2004, Lịch sử văn minh Ấn Độ (Nguyễn Hiến Lê dịch), NXB VHTT, Hà Nội, trang 251.
3. Hồ Sĩ Quý, 2005, Về giá trị và giá trị Châu Á, NXB CTQG, Hà Nội, trang 87
4. Khổng Tử, 2002, Luận ngữ, NXB Văn học, trang 695.
5. Will Durant, 2004, Sđd, trang 63.
6. Đặng Hữu Toàn và các tác giả khác, 2005, Các nền văn hóa thế giới, NXB Từ điển bách khoa, trang 88. 
7. Khổng Tử, 2002, Sđd, trang 572.
8. Đặng Hữu Toàn và các tác giả khác, 2005, Sđd, trang 67.
9. Đặng Hữu Toàn và các tác giả khác, 2005, Sđd, trang 137.
10. Doãn Chính (Chủ biên), 2006, Veda – Upanishad những bộ kinh triết lý tôn giáo cổ Ấn Độ, NXB CTQG, Hà Nội, trang 102.
11. Nguyễn Hiến Lê, 1994, Lão tử Đạo đức kinh, NXB Văn hóa, trang 181
12. Hoàng Ngọc Hiếu, 2005, “Đạo đức học mạnh Tử - Minh triết Đông Á cổ”,  Sang viễn Đông, trở về viễn Tây, NXB Đà Nẵng, trang 94.
13. Hoàng Ngọc Hiếu, 2005, Sđd, trang 25.
14. X. Carpusina & V. Carpusin, 2004, Lịch sử văn hóa thế giới, NXB Thế giới, Hà Nội,  trang 198.
15. Nguyễn Hiến Lê, 1994, Sđd, trang 188, 182 
16. Nguyễn Hiến Lê, 1994, Sđd, trang 246.
17. Doãn Chính (Chủ biên), 2005, Kinh văn của các trường phái triết học Ấn Độ, NXB CTQG, trang 585, 586, 588.
18. Stephen Oppenheimer, 2005, Địa đàng ở Phương Đông, NXB Lao động – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, trang 713.